Những bài mới nhất

alt

1

Vũ ngắt nhẹ một ngọn lá, đưa lên mũi ngửi. Hương ổi thơm nhẹ nhàng. Đưa mắt nhìn ra cổng, Vũ thấy cây mai hình như tươi hẳn lên. A! Những nụ hoa vàng đã chớm nở rồi kia! Vũ thoáng nghe một niềm vui là lạ dâng lên trong lòng.

Mùa xuân đã đến rồi sao? Tết đến rồi sao? Và tuổi của Vũ lại thêm lên một tí sao? Ồ! Thêm một tí cũng không hề gì. Chẳng là Vũ vẫn còn bé lắm cơ mà! Mới là mười hai tuổi thôi! Vũ mong lắm, Vũ thích lắm. Vũ nghĩ đến Tết mà nôn nóng thế nào ấy!

Nhưng cái mà Vũ để ‎ý đến nhiều nhất là cây mai trước cổng kia! Từ mấy tuần nay, ngày nào Vũ cũng ra sân lo “chăm sóc” cây mai – gọi là “chăm sóc” chứ có gì đâu, Vũ chỉ đưa mắt tìm những chồi non trên cao, và lấy cây khoèo những chú sâu bám trên lá xuống – Mà chỉ riêng có năm nay, không hiểu sao Vũ lại mong hoa mai chóng nở. Chắc chẳng ai hiểu Vũ muốn thế để làm gì đâu. Vũ giấu kín trong lòng, không nói với ai. Thật thế, nếu nói ra chắc ai cũng phải cười và nhạo Vũ ghê lắm, vì… Vũ chỉ mong có chim én về.

Vũ mong chim én về!!! Hôm tháng trước, cái Liên bạn Vũ tặng cho Vũ một tấm hình tự tay nó vẽ, hình con chim én bay gần cành mai vàng rực. Sau lưng tấm hình, Liên đề: “Tặng Vũ đó, đừng chê Liên vẽ xạo nghen!”. Vũ nghĩ có lẽ cái Liên vẽ “xạo” thật, nhưng tấm hình đẹp quá, làm Vũ thích quá! Rồi bỗng nhiên Vũ đâm ra mơ ước… ước sao trên cây mai nhà Vũ có chim én bay đến lượn quanh như thế này. Mà hoa mai phải nở đều, vàng rực như thế này mới đẹp. Vũ ước ao được thấy chim én một lần, thấy chim én thật chứ không phải trong sách. Trong sách có thiếu gì hình, song Vũ chỉ muốn nhìn ở ngoài thôi! Vì thế nên ngày nào Vũ cũng ra nhìn xem cây mai đã nở được cái hoa nào chưa. Vũ mong mùa xuân, mong Tết, và mong có chim én về…

- Chị ơi! Có bác Hai ở nhà không?
Giọng nói nào nghe thật êm, nhẹ, cất lên sau lưng Vũ. Vũ quay lại. Một cô bé trạc bằng Vũ đứng ở đấy, bên cây mai. Cô bé mặc một bộ quần áo không mấy tốt lành gì cho lắm. Mái tóc xõa ngang vai và lòa xòa trên gương mặt ốm, xanh. Vũ hỏi:
- “Ấy” hỏi má tôi hả?
Cô bé gật đầu, nét mặt không lộ vẻ gì cả.
- Để làm gì vậy, “ấy”?
- Dạ mợ em có chuyện cần muốn gặp bác Hai.
- Mợ của “ấy” là…?
- Dạ mợ của em ở kế bên nhà chị a tề! Bà Năm thợ may nờ.
Vũ “à” một tiếng:
- “Ấy” đợi tí nhé!
Rồi Vũ chạy vào nhà gọi má Vũ. Khi Vũ trở ra, cô bé vẫn còn đứng ở đó, dáng dấp bé nhỏ hầu như bất động. Vũ thấy thương thương cô bé chi lạ. Vũ đến nắm tay cô bé:
- “Tớ” nói má “tớ” sang nhà mợ của “ấy” rồi. Nè! Bây giờ “ấy” vào sân chơi với “tớ” đi! “Tớ” có bộ son nồi đẹp lắm! “Ấy” chơi bán bún với “tớ” không?
Cô bé ngần ngừ một lát, rồi gật đầu. Hai đứa dẫn nhau vào sân. Vũ ngồi xuống ghế xích đu. Cô bé vẫn đứng yên. Vũ bảo:
- Kìa, “ấy” ngồi xuống đây chơi đi!
Vùa nói Vũ vừa kéo tay cô bé ngồi xuống. Xong Vũ lấy trớn đu mạnh. Chiếc ghế xích đu đưa tới đưa lui vun vút. Mặt Vũ mát lạnh vì hơi gió. Vũ cười khoan khoái:
- Sướng há “ấy”!
Nhưng Vũ thấy cô bé như hằn vẻ sợ hãi trên nét mặt, tay bấu chặt lấy thành ghế. Vũ lấy làm lạ, vội ngừng ngay không đu nữa, thắc mắc:
- Bộ “ấy” không thích xích đu hở?
Cô bé gật đầu. Vũ hơi ân hận, không biết phải tìm trò gì để cô bé chơi cùng. Chợt nhớ ra cây mai của mình, Vũ chỉ cho cô bé:
- Nè “ấy” ơi, “tớ” có cây mai đẹp lắm, nó gần nở hoa rồi. Chắc Tết này nó nở ngập hết.
- Rứa à?
- Ừ! “Ấy” có thích hoa mai không?
- Có.
- Thế thì ngồi xuống đi, “tớ” nói cái này cho nghe.
Cô bé rụt rè ngồi xuống, run run:
- Nhưng mà… chị đừng có đu nữa hỉ!
Vũ cười to. Những tiếng “tề, hỉ, rứa…” của cô bé nghe dễ thương ghê là! Vũ nắm tay cô bé, kể cho cô bé nghe ý nghĩ của Vũ:
- Nè “ấy” ơi! “Tớ” mong mau đến Tết, để cây mai của “tớ” nở hoa. Để làm chi, “ấy” biết không? “Tớ” nói, cấm “ấy” cười “tớ” nhé! Để cho chim én nó bay đến, cho “tớ” ngắm. Tớ thích chim én lắm. Mà không biết chim én có thèm bay đến cành mai không hở “ấy”? Không biết chim én có thích về Sài Gòn không nhỉ? Chim én… nó ở đâu, hở “ấy”?
- Em… không biết.
- Vái Trời chim én nó đến, “ấy” nhỉ! Chà, chắc là đẹp hơn cả trong hình bạn “tớ” vẽ nữa. Để khi nào chim én về, “tớ” gọi “ấy” sang xem nhé!
- Dạ.
Vũ vẫn cứ nói huyên thuyên:
- Đến mồng một Tết chắc là hoa mai nở hết cả nhỉ! Nè “ấy” xem, mới hôm nay mà nụ đã đầy cả rồi kìa! Cả chồi non cũng đầy cả. Mà… “tớ” chỉ ghét mấy con sâu, “tớ” oán chúng lắm…!
Vũ lại nắm tay cô bé đứng dậy, chỉ lên cây mai, trầm trồ:
- Đó “ấy” xem! Chúng ăn hết mấy cái lá, sâu hết. Nhưng chả sao, há “ấy”, sẽ còn nhiều lá nữa mà. “Ấy” thấy hoa mai đẹp không hở “ấy”? Đẹp không???
Nhưng khi nhìn qua, Vũ ngạc nhiên vì cô bé vẫn cúi đầu xuống, không nhìn theo Vũ. Vũ bực mình, nói giọng hơi gắt:
- Bộ… bộ “ấy” không thèm nhìn à? Hở… “ấy”?
Cô bé ấp úng trong miệng, ngại ngùng ngước mặt lên. Bây giờ Vũ mới thật nhìn rõ mặt cô bé. Và Vũ suýt buộc miệng kêu. Vũ ngỡ ngàng. Gương mặt xanh xao kia, chiếc mũi thon nhỏ kia, làn môi dễ thương kia… Nhưng đôi mắt thì trắng đục và không còn vẻ gì là tinh anh. Đôi mắt ấy, hoàn toàn bất động khiến cho cả khuôn mặt của cô bé mang một vẻ ngây dại lạnh lùng.
Vũ lắp bắp:
- “Ấy”… “Ấy” đừng buồn “tớ” nghen!
Cô bé nhếch môi khẽ cười. Vũ lại dìu cô bé ngồi xuống ghế xích đu.
- Vậy… vậy lúc nãy… làm sao “ấy” biết có “tớ” ở đây?
- Em nghe tiếng chị hát, em biết.
- “Ấy” hay quá! “Ấy” tên gì?
- Hoài.
- “Tớ” tên Vũ, nghe “con trai” không Hoài?
- Không, hay lắm chứ!
Vũ nhìn sâu trong đôi mắt Hoài:
- Hoài mới về ở với dì Năm hở?
- Dạ. Hoài là cháu gọi dì Năm bằng mợ. Hoài về đây đã gần một tuần rồi.
- Thế ba má Hoài đâu?
- Ba má Hoài hở? – Đôi mắt trắng đục kia bỗng nhướng to lên như cố tìm thấy một hình ảnh nào đó, và giọng Hoài run run – Ba má Hoài mất rồi, cả anh em Hoài nữa. Nhà Hoài hồi đó ở Quảng Trị. Rồi đánh nhau… Xóm Hoài cháy rụi. Không ai chạy đi đâu được. Hoài là người sống sót duy nhất trong gia đình. Khi Hoài tỉnh dậy, Hoài không còn thấy đường nữa Vũ ơi! Khói bom đạn đã làm mù mắt Hoài. Hoài khóc luôn Vũ à! Hoài không được về xóm, không được gặp ai quen. Rồi… mợ Hoài trong ni ra ngoài nớ lãnh Hoài về nuôi đó Vũ.
Hoài kể một hơi, rồi ngồi lặng yên, không khóc nhưng gương mặt in đậm vẻ đau đớn buồn tủi. Còn Vũ, Vũ nghe toàn thân như lạnh giá, và Vũ chợt thấy nước mắt Vũ đang rơi…

2

- Hoài ơi! Hoài nè!
- Gì rứa, Vũ?
- Gần Tết rồi đó Hoài.
- Ừ há, gần Tết rồi, Vũ có áo mới chưa?
- Áo mới hở? Chưa. Còn Hoài?
- Cũng chưa. Nè, Vũ ơi!
- Gì thế Hoài?
- Vũ… Vũ có thấy chim én lần mô chưa?
- Có, có một lần… một lần Vũ đi Đà Lạt, Vũ thấy trên nóc lầu cao ở hãng máy bay ấy, có một cái tổ chim én. Cái tổ trông như một tấm lông thú màu vàng vàng. Vũ thích quá. Vũ nhón lên đợi chim én bay ra, nhưng chúng nó còn ngủ hay đi chơi không biết, nên Vũ chả thấy gì hết, mà lại còn bị lóa mắt vì mặt trời chiếu vào nữa.
- Hic hic! Vậy là Vũ không được thấy hỉ!
- Ừ, nhưng Vũ biết chim én rồi! Ở trong sách hình đó. Vũ mong có chim én bay đến đậu trên cây mai của tụi mình, chắc là đẹp lắm Hoài nhỉ!
- Rứa chim én trong sách hình có đẹp không, Vũ?
- Cũng đẹp chứ! Ủa, mà Hoài chưa biết chim én hở?
- Chưa nơi! Hồi trước chiều chiều Hoài hay thấy chim quạ bay tới. Chim quạ đen và kêu khiếp ghê lắm. Hoài ghét chim quạ lắm Vũ nờ.
- Ừ, Vũ cũng ghét chim quạ. Chim én đẹp và thanh chứ không xấu xí hung dữ như chim quạ đâu!.
- Hoài thích gặp chim én lắm! Xuân về chắc là có chim én, Vũ hỉ!
- Vũ… không biết. Chắc là có chứ!
- Nhưng… nếu có chim én về, Hoài cũng không nhìn chim én được. Vũ ơi, Hoài hết thấy đường rồi! Chim én ơi!...
- Hoài, Hoài nín đi! Rồi Vũ sẽ… sẽ… À thôi, Hoài nín mau, Vũ đem bộ son nồi ra đây chơi bán bún với Hoài, nghen!
- Chim én ơi!!!

3

Vũ khoan khoái đưa tay sờ lên túi áo cồm cộm. Nụ cười vui sướng nở trên môi. Vũ hình dung ra nét mặt dễ yêu của Hoài. Và đôi mắt của Hoài sẽ không làm Hoài buồn nữa, vì….
Vũ chạy nhanh ra sân. Lạ! Sân nhà Vũ sao hôm nay cũng tươi hẳn lên. Những ngọn lá, cành cây như xanh thêm lên. Hoa cỏ như cười với Vũ. Nhất là ngoài cổng, cây mai của Vũ được thêm vài nụ hoa mới nở nữa.
Vũ đứng ngay dưới gốc mai, gọi với sang nhà Hoài:
- Hoài ơi! Hoài nè!
Hoài đang đi qua kia! Hoài đã đi thuộc con đường này nên không còn mò mẫm chậm chạp nữa. Vũ nấp sau gốc cây, hỏi:
- Đố Hoài biết Vũ ở đâu?
Hoài dừng chân lại nghe, rồi cười:
- Ở sau cây mai chứ chi!
Vũ chạy ra, nắm tay Hoài:
- Sao Hoài tài vậy?
- Ừ, thì Hoài nghe, Hoài ngửi, Hoài sờ… phải giỏi để bù lại…
- Hay quá! Bi giờ Hoài trổ tài cho Vũ xem đi nghen!
- Cái gì vậy? – Hoài ngạc nhiên.
Vũ kéo Hoài vào sân, ngồi lên ghế xích đu. Dáng Hoài ngồi nhỏ bé, bàn tay gầy ốm vịn chặt thành ghế. Những sợi tóc vướng vướng ngang mày Hoài. Đôi mắt Hoài như ngó chăm chăm vào một chỗ. Trông Hoài yếu đuối tội nghiệp quá! Vũ siết chặt tay bạn, thương mến. Hoài hỏi nhỏ:
- Cái gì vậy Vũ?
Vũ cho tay vào túi áo, rút cái hộp ra, đặt vào tay Hoài:
- Cho Hoài nè, Hoài mở ra đi!
Hoài mò mẫm mở nắp hộp. Vũ nín thở theo dõi từng động tác của Hoài. Hoài dùng ngón tay trỏ sờ lên bản gỗ lồi lõm đặt trong hộp. Ngón tay đi từ chiếc đầu bé nhỏ, ra đến một cái cánh thanh tao, sang một cánh nữa, rồi ngừng lại ở chiếc đuôi dài. Rồi hai ngón tay, ba ngón tay… cả một bàn tay gầy ốm của Hoài vuốt nhẹ mơn man trên bản gỗ. Đôi mắt trắng đục không còn vẻ tinh anh của Hoài hướng về phía Vũ, mở thật to lên như muốn chọc thủng màn u tối để nhìn thấy hình ảnh người bạn. Và môi Hoài nở một nụ cười thật tươi, thật sung sướng.
Vũ khẽ hỏi:
- Đẹp không Hoài?
- Đẹp…, xinh lắm… Vũ à!
Giọng Hoài xúc động. Vũ hân hoan:
- Chim én này do Vũ khắc đó! Vũ xem hình trong sách ấy mà! Hoài… Hoài biết chim én rồi há!
- Ừ, chim én đẹp ghê Vũ hỉ! Nó thanh chứ không xấu và ác như chim quạ hỉ!
- Chứ sao! Chim quạ đem chết chóc tới, còn chim én mang mùa xuân về mà!
Vũ chợt thấy vẻ mặt của Hoài trở nên xa xăm. Hoài lặng yên. Vũ cũng lặng yên. Vũ nghĩ đến những việc gì Vũ phải làm nữa để an ủi Hoài, để xoa dịu nỗi buồn của Hoài, người bạn xấu số mơ ước thấy chim én hơn cả Vũ nữa. Còn Hoài, Hoài nghĩ đến những ngày sắp tới luôn luôn có Vũ bên cạnh, vui đùa, kể chuyện với Hoài, giúp Hoài quên đi những ngày hãi hùng đầy dẫy bóng quạ đen.

… Rồi Hoài gọi:
- Vũ ơi!
- Ơi!
- Sao… sao Vũ thương Hoài rứa?
- Hoài hỏi… kỳ!
Hoài bật khóc. Nước mắt nhỏ ra, rơi rụng trên con chim én gỗ trong tay. Vũ ôm vai bạn, chỉ lên cành mai đang trổ hoa vàng:
- Hoài ơi! Hoa mai nở nhiều rồi kìa! Chắc ngày mai chim én đến chơi với mình Hoài nhỉ!

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 100, Xuân Kỷ Dậu, ngày 1 và 15-2-1969

 

 

 

 

 

 

Tưởng niệm Ngày Hoàng Sa 19/01/1974

 

alt

 

Thuở nhỏ, tôi thường chờ đợi nghe tiếng còi tàu trong những dịp đặc biệt, nhất là phút đón chào năm mới. Sau khi chuông chùa và chuông nhà thờ đổ rồi sẽ đến tiếng còi tàu. Còi hụ rất lâu, từ bến tàu Sài Gòn. Tôi nao nức lắm, tưởng tượng những con tàu thật lớn đang neo đậu, đang cất lời cùng với con người ca ngợi giây phút thiêng liêng. Không biết có bạn nhỏ nào giống như tôi không? Như thế đó! Và thật bình yên, tôi mở một trang giấy mới, ngồi ngay ngắn, “khai bút” đầu năm.

Tôi có ông anh họ làm lính hải quân - anh Sơn. Anh đi đi về về và thường ghé thăm Ba Má. Anh nói anh chẳng có quà chi đặc biệt cho cô em gái. Không lẽ anh vớt “hoa sóng” về cho em ư? Nghe buồn cười quá, giống như trong một bài hát, không giống thật. Nhưng anh có một biệt tài: khắc hình thiếu nữ bằng những viên phấn. Anh xin tôi những viên phấn nguyên vẹn - cái này thì tôi không thiếu, vì tôi hay làm cô giáo tưởng tượng, có bảng đen, có phấn trắng hẳn hoi. Và thế là chỉ với một lưỡi dao lam, anh Sơn khắc viên phấn thành cô gái. Cái đầu viên phấn có chút xíu thế mà anh khắc sống mũi cao, đôi môi cong dễ thương, rồi thì mái tóc, rồi thì thân hình mặc áo dài. Sau đó anh tô màu sơn dầu. Chưa hết, khi tác phẩm đã hoàn thành, anh Sơn nhúng cả “cô phấn” vào một ly sáp chảy lỏng rồi lấy ra. Thế là một bức tượng thiếu nữ nhỏ nhắn bóng láng được đặt đứng trên bàn, quá xinh. Tôi cung cấp cho anh Sơn đầy đủ “nguyên vật liệu”, học lóm nghề điêu khắc của anh, và thưởng thức những tác phẩm của anh.

Anh Sơn bảo đời lính biển không có gì vui, chỉ thấy biển và trời, nên các anh ai cũng tự học một “nghề” làm vui cho chính mình. Anh không biết rằng cái mà các anh thấy quen thuộc đến nhàm chán, lại là điều mà tôi ao ước được đến.

Sau này anh Sơn bị bệnh, phải sớm giã từ quân ngũ. Anh nói anh nhớ biển, nhớ trời, nhớ những con tàu đến điên cuồng.

**

Và rồi tôi có một lần được đi trên một con tàu: Dương vận hạm Vũng Tàu HQ 503.

Chiếc tàu này trong một kỳ nghỉ ngơi, đã được điều để giúp đưa nhóm sinh viên Dược khoa ra Nha Trang. Mùa hè 1973.

Đi bằng đường biển! Tôi vui sướng khôn tả. Mơ ước đã trở thành sự thật!

Dương vận hạm Vũng Tàu HQ 503! Ngay cái tên đã làm chúng tôi hình dung được một chiếc tàu vận tải thật lớn. Đúng như vậy! Boong tàu dài ơi là dài! Chúng tôi reo lên, và đã hát hò sinh hoạt suốt ngày trên boong tàu. Tôi khám phá một điều mà sau này tôi cứ dùng để chia sẻ như một “bí quyết” cho những người đi tàu, đó là: hát hò sẽ giúp chúng ta không bị say sóng. Và nguyên nhóm văn nghệ chúng tôi không ai bị chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn hay ói mửa gì cả. Trong khi đó những anh chị vào nằm trong các phòng kín mít lại bị “nôn tới mật xanh mật vàng”, kể cả mấy vị bác sĩ.

Thế nhưng có một lúc tôi cùng các bạn được vào trong hầm tàu, dưới sự hướng dẫn của một sĩ quan. Chúng tôi vào phòng máy. Không khí trong phòng nóng và ngột ngạt. Tiếng máy chạy ồn điếc tai. Không ai nghe được người khác nói gì. Rời phòng máy, chúng tôi được đi xem các nơi khác trong tàu, như phòng ngủ, nhà bếp, và cả phòng tắm và vệ sinh nữa. Dĩ nhiên những cái này là dành cho những người quân nhân sống đời hải hồ như anh Sơn của tôi vậy.

Ra khơi… biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông, biết đời viển vông, biết ta hãi hùng.

Ra khơi… thấy lòng phơi phới, thấy tình thế giới, thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới.

Chơi vơi… con thuyền trên sóng không nguôi, bão bùng xô tới xô lui, vững tay chèo lái.

Xa xôi… hỡi người trong viễn phương ơi, hẹn hò nhau viễn du thôi, lên đường mãi mãi… (*)

Tiếng hát cứ cất lên, tiếp nối nhau trong những bài ca tụng biển cả, kéo dài đến cuối ngày. Đêm trên biển mênh mông thật lạ lùng, thú vị. Chúng tôi thấy bờ biển Phan Thiết phía xa, đèn sáng cả một vùng,  thấy ánh đèn từ những chiếc ghe của ngư dân đi đánh cá đêm, lập lòe. Và trăng đêm rằm kìa! Một mảnh tròn sáng vằng vặc. Nó làm cho lòng người reo vui.

Sau những ngày chúng tôi đi du khảo ở Nha Trang, chiếc tàu theo hẹn đến đón chúng tôi về lại Sài Gòn. Nắng gió trên boong tàu làm mặt đứa nào đứa nấy đen sì.

Dương vận hạm Vũng Tàu HQ 503, tôi nhớ lắm! Không chỉ là nhớ con tàu, mà còn những người thợ làm việc mệt nhọc dưới phòng máy, những công nhân khu “hậu cần”, suốt ngày có khi không thấy mặt trời, cho đến những người lính thủy rắn rỏi nhanh nhẹn, những vị sĩ quan nghiêm nghị ở đài chỉ huy.

Đó là chuyện vui chơi. Năm tháng trôi đi… Có khi người ta không nghĩ đến chúng - những con tàu.

Nửa năm sau đó, một chiếc chiến hạm đã vĩnh viễn chìm vào sóng cả - Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10. Các chiến hạm của VNCH tham gia trận hải chiến Hoàng Sa ngoài chiếc Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10  còn có Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ 16), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ 5) và Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ 4). Chuyện đó thì không ai có thể quên. Hải quân Thiếu tá Nguỵ Văn Thà cùng 73 chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa chống quân Trung Cộng xâm lược.

Sóng khóc... Biển hờn...

 

alt

 

Hôm nay nhớ đến con tàu năm xưa mà mình đã hân hạnh đi về hai bận như với một người bạn đồng hành ngắn ngủi, tôi băn khoăn tự hỏi con tàu ấy đã ra sao. Sau ngày 30 tháng Tư 1975 tất cả những binh chủng không còn! Có chăng là còn trong trí nhớ và trong ngập tràn lòng biết ơn của những người từng sống ở thời ấy. Tôi tìm tòi tài liệu nơi cái thế giới “vi hữu” của tôi. Đây rồi, mấy dòng ngắn ngủi:

“Tháng 3/1975, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù đang trấn đóng tại Đại Lộc, Quảng Nam, được lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến và xuống hai Dương vận hạm HQ 503 và HQ 504 tại cảng Đà Nẵng để về Sài Gòn. Cùng lúc đó, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 - Quân Khu 2, xin Bộ Tổng Tham mưu cho Lữ đoàn 3 Nhảy Dù tăng viện để lập phòng tuyến mới tại Khánh Dương. Sau khi đổ quân xuống Nha Trang, HQ 503 quay trở lại Đà Nẵng tiếp tục công tác di tản. Ngày 17 tháng 4/1975, trong công tác cứu vớt quân bạn gần vịnh Cà Ná, Bình Thuận, HQ 503 đã bị đạn pháo bắn trúng bên hông”.

(http://www.mekongrepublic.com)

Ở một trang khác:

“Trên đường lui binh về Nam, các chiến hạm Hải Quân, hoặc đã đầy người, hoặc đang chuyên chở vũ khí nặng, không thể giúp các đơn vị bạn tại Phan Thiết nhiều, như đã giúp những đơn vị khác từ các tỉnh miền Trung. ..

Tại vịnh Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, HQ 503 đang tuần tiễu thì thấy một trực thăng bay quanh chiến hạm. Một mệnh lệnh vang lên từ máy truyền tin: “Mặt trời muốn nói chuyện”. Hạm Trưởng HQ 503 tức tốc chụp ống liên hợp. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi từ trực thăng đích thân ra lệnh cho Hạm Trưởng HQ 503: “Anh vào bờ vớt mấy thằng con của tôi.” Chỉ một câu đó thôi, rồi trực thăng biến dạng vào bờ.

Sau khi lấy ống dòm, nhìn vào bờ và thấy mấy toán Nhảy Dù đang dùng kính phản chiếu cấp cứu rọi ra chiến hạm, Hạm Trưởng HQ 503 liên lạc với Hạm Trưởng HQ 17, xin chỉ thị. Hạm Trưởng HQ 17 chấp thuận.

Vùng Cà Ná núi đá ra tận biển, cho nên việc đưa một chiến hạm vào sát bờ là không thể thực hiện được. Nhưng khoảng cách từ chiến hạm đến bờ cũng khoảng hai, ba trăm thước, không thể nào mấy toán Nhảy Dù có thể bơi ra. Thấy một số ghe tam bản đánh cá gần đó, Hạm Trưởng HQ 503 cho gọi họ đến, thương lượng. Những ngư phủ này đồng ý đưa mấy toán Nhảy Dù ra chiến hạm để đổi lấy hai “phuy” dầu cặn.

Vì ghe tam bản không có khả năng đi xa, Hạm Trưởng phải giữ chiến hạm càng gần bờ càng tốt. Trong vị thế như vậy, chỉ một sơ hở hay một cơn sóng bất thần hoặc một luồng gió mạnh cũng có thể đẩy chiến hạm lên bờ; mà mắc cạn trong lúc này là chết hết!

Để phòng ngừa mọi bất trắc, Hạm Trưởng chia nhân viên thành hai nhóm. Nhóm chỉ huy chiến hạm do Hạm Trưởng đảm trách; nhóm chỉ huy các ghe vào đón quân Dù do Hạm Phó phụ trách.

Chiều 16 tháng 4,  khoảng 5 giờ, công tác hoàn tất. HQ 503 vớt được 20 binh sĩ Dù.

Sau khi vận chuyển, quay mũi ra khơi, Hạm Trưởng HQ 503 giao chiến hạm cho sĩ quan đương phiên. Vào phòng chưa được bao lâu, Hạm Trưởng nghe tiếng gõ cửa gấp rút: “Hạm Trưởng! Hạm Trưởng! VC pháo ra tàu.” Hạm Trưởng chụp ngay ống liên hợp, ra lệnh cho đài chỉ huy: “Nhiệm sở tác chiến! Tăng tốc độ tối đa. Lái zigzag ra khơi. Gọi tàu bạn tới cứu!”

Ra lệnh xong, Hạm Trưởng chạy ngay lên đài chỉ huy. Hạm Trưởng vừa lên ngang phòng ăn, một trái đạn rớt ngay phòng vô tuyến. Sĩ quan vô tuyến bị thương. Hạm Trưởng ra lệnh cho hạ sĩ quan vô tuyến: “Gọi tàu bạn tới cứu!” rồi Hạm Trưởng tiếp tục chạy lên đài chỉ huy.

Vì nghĩ rằng khi chiến hạm bị trúng trọng pháo, điện sẽ bị hỏng, hệ thống điện thoại sẽ bị gián đoạn, Hạm Trưởng chạy vòng ra phía trước, bên ngoài đài chỉ huy, cầm ống hơi – không cần dòng điện – để chỉ huy, chứ Ông không vào đài chỉ huy, ngồi lên ghế Hạm Trưởng, với đầy đủ hệ thống chỉ huy toàn chiến hạm.

Hạm Trưởng vừa cầm ống hơi, bất ngờ một quả đại bác rớt ngay đài chỉ huy. Một sĩ quan và năm nhân viên trong đài chỉ huy bị tử thương! Hạm Trưởng bị sức ép, ngã xuống. Chỉ vài tích tắc, Hạm Trưởng HQ 503 bừng tỉnh và cảm thấy vật gì nhầy nhụa trong lòng bàn tay trái và máu từ trên đầu tuôn xối xả! Hạm Trưởng tưởng rằng Ông đã chết và vật nhầy nhụa trong bàn tay là não của Ông! Nhưng không hiểu một mãnh lực nào đó trợ giúp, Hạm Trưởng HQ 503  gượng đứng dậy, tiếp tục ra lệnh cho phòng lái (ngay dưới đài chỉ huy): “Tiếp tục lái ra khơi. Kêu tàu bạn tới cứu. Báo cáo Hạm Trưởng có lẽ đã chết!”

Nghe HQ 503 kêu cứu, HQ 17 phản pháo dữ dội.

Ra khỏi tầm đạn của VC, kiểm điểm lại, HQ 503 bị trúng 20 trái đại bác. Chiến hạm bị hư hại nặng, chỉ còn một máy. Hai mươi nhân viên chết và bị thương. Hạm Trưởng thoát chết!

(http://vuthat.wordpress.com)

Hạm trưởng HQ 503, Trung Tá Hải quân Nguyễn Văn Lộc, hoài niệm:

“Biến cố 75, “Mộng Hải Hồ” của tôi tan biến cùng với sự sụp đổ của Miền Nam.  Tôi giã từ biển cả, được bạn đưa đi dung thân trên xứ lạ quê người.  Lòng tôi đau đớn, đau hơn cả vết thương trên đầu do một mảnh đạn 105 khi tôi đưa tàu vào bờ biển Phan Thiết để cứu binh chủng bạn.  Tàu tôi bị địch bắn trực xạ hàng loạt pháo 105.  Phòng chỉ huy của tôi bị nổ tung.  Một số sĩ quan và binh sĩ đã hy sinh tại chỗ.  Tôi nhờ đứng phía ngoài nên chưa ngã gục, nhưng đã bị ngất xỉu vì sức ép của đại pháo.  Tôi đã bị thương ở đầu vì một mảnh đạn xẹt qua.  Máu chảy ướt hết cả áo, tận đến thắt lưng mà tôi chẳng thấy đau.  Trong cơn nguy hiểm, hình như tất cả đều quên mình.  Sau một phút kinh hoàng, tôi tỉnh lại và đứng dậy tiếp tục chỉ huy bằng ống loa, ra lệnh cho tàu chạy zic-zac ra khơi, để tránh những luồng đạn ác nghiệt nối tiếp theo sau.

Ôi! mảnh đạn oan nghiệt kia, nó không kết liễu đời tôi để được trọn vẹn chung thủy với gần 20 đồng đội đã vĩnh biệt ra đi lúc đó, không có lễ lộc, không có vòng hoa, cũng không có điếu văn từ giã.  Nhưng các bạn đó là người của biển, đã hãnh diện bỏ mình ngay trên mặt biển, được biển đón về trong tiếng nhạc êm đềm không dứt. Trở lại là mảnh đạn oan nghiệt đó, nó không lấy đời tôi nhưng hình như đã hủy hoại một bộ phận trong não bộ của tôi, nơi đó có chức năng sinh sản chất dopamine, vì vậy đã gây cho tôi mang một cố bệnh, mà hiện nay trên thế giới chưa có thuốc chữa, chỉ có thuốc cầm chừng và giảm đau.  Cơn bệnh càng ngày càng trầm trọng và có lẽ nay đã đến giai đoạn cuối.  Bệnh của tôi, anh em ai cũng biết.  Có bạn đến thăm thấy bệnh tình của tôi, đã quay mặt che giấu những giọt nước mắt ứa ra vì thương cảm.  Tôi tiếu lâm: “Tôi đang enjoy bệnh của tôi mà!” …

(http://vuthat.wordpress.com)

 

Nguyên Hạm Trưởng Dương Vận Hạm Vũng Tàu HQ 503, Trung Tá Hải quân Nguyễn Văn Lộc, chịu đựng vết thương trong 30 năm, đã giã từ gia đình và bè bạn vào ngày 20 tháng 3 năm 2005 tại San Jose, California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 68 tuổi.

**

Ôi những con tàu, hoặc đã chìm vào lòng đại dương hay đã bị dẫn dắt về một công xưởng nào đó, vẫn để lại những lời vang vọng. Lời của tàu mênh mang trong khói sóng. Đó là tiếng buồn của quê hương. Mấy mươi năm qua rồi, biển mẹ còn đau day dứt.

Tôi vẫn khắc khoải chờ nghe những tiếng còi tàu. Như chờ một mùa xuân.

 

Kính tặng các chiến sĩ Hải quân VNCH

Tưởng niệm Ngày Hoàng Sa 19/1/1974

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

19 tháng Giêng, 2013

vietbao.com

 

(*) Viễn Du, nhạc và lời của Phạm Duy

 

 

 

 

 

 
Dõi mắt về quê thấy lệ nhòa
Tháng Giêng! Tháng tưởng niệm Hoàng Sa!
Thắp nén hương lòng dâng chiến sĩ
Biển sâu vùi xác, nợ nước nhà.
 
Sóng hờn, biển khóc, vun ngọn nước
Đất quặn, sông đau, tiếc đảo xa
Tàu chiến vẫy vùng không khuất phục
Bảy mươi bốn chiến sĩ rời xa.
 
Tôi vẫn chờ nghe tiếng còi tàu
Tiếng lòng thổn thức, tiếng lòng đau
Anh em bốn bể cùng lên tiếng
Đòi lại Hoàng Sa, đuổi giặc Tàu!
 
 
 

alt

 

Ngày xưa có một con bé thích ngồi ở chân cầu thang. Học bài, làm bài, viết thư, viết truyện. Bé không thích ngồi ở bàn. Vì không hiểu sao ở nơi chân cầu thang có một sức gây cảm hứng kỳ lạ. Ngay cả mỗi năm, khi đến phút giao thừa, bé cũng ngồi nơi chân thang để “khai bút”. Khai bút xong, lắng tai nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ đổ, rồi đến tiếng còi tàu hụ xa xa. Ý tứ từ đó cũng tuôn lai láng.

Cái cầu thang, bằng gỗ, thỉnh thoảng kêu cót két, lâu ngày mục dần ở chân. Ba thay bậc cuối cùng bằng một nấc xi-măng. Ngoài đời, mỗi lần lên lớp, cũng giống như mỗi lần chân bé được nâng cao thêm, vững vàng.

Có một khoảng thời gian con bé không còn viết ở chân cầu thang. Đã ra trường, không cần phải học bài, làm bài. Truyện ngắn truyện dài cũng “không có chỗ để đăng”, bé ngừng viết. Ngừng viết gần ba mươi năm.

Sau này, nhà sửa, cái thang gỗ không còn ở vị trí cũ. Có một cái thang mới làm bằng gạch bê-tông, những bậc cấp phủ đá mài. Không còn lo mục. Cũng không sợ mối mọt.

Ba mất.

***

Lâu dần không nhớ đến nơi chân thang. Một hôm, dọn nhà mới, chưa có đủ bàn ghế, người viết ngồi ở cuối cái thang gỗ. Thang có lót thảm. Nhưng những tiếng lòng của thời thơ ấu lại trở về, cót két, cót két, nghe bằng tâm. Nghe cảm động. Ý tứ lại lai láng.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Cuối năm 2012

 

 

alt

 

alt

 

Thân mến chúc quý độc giả và thính giả một Mùa Giáng Sinh An Hòa.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

alt

 

1
     Bé Thơ trở về khi mùa đông gần tàn lụi.

    “Bé Thơ” vẫn được gọi là “Bé” khi về đến mái gia đình. Bởi “Bé” xa nhà đã ba mươi năm, khi còn là một cô nhóc đang học những năm đầu bậc trung học. Mà không riêng gì Bé Thơ, hầu như mỗi cô cậu nhóc trong khu xóm này đều có một cái tên để gọi ở nhà. Tên Bé Thơ là còn đẹp đấy, vì Thơ là tên đi học. Có một số đứa tên Xí, tên Tèo, tên Tí, tên Cu… nghe thì tức cười và không ai muốn được gọi bằng những cái tên đó khi lớn lên vì mắc cỡ. Bé Thơ, tên gọi ở nhà, đã thành một chữ kép. Và cái tên đó nghe không mắc cỡ.
Anh chị Danh đón Bé Thơ về nhà ngay bằng chiếc xe Simca cà tàng, loại thịnh hành từ trước năm 75. Không có máy điều hòa, chỉ có chiếc quạt máy nhỏ xíu gắn ngay bên hông tài xế làm mát cho cả xe. Nhưng không cần mở chiếc quạt này, vì trời đang là cuối đông, và không khí lúc càng lên cao càng mát lạnh. Bé Thơ đang về lại nhà xưa.


     Sương mù! Sương mù đầy cả! Bé Thơ reo lên như đứa con nít. Đã lâu không được hưởng cái cảm giác đi trong sương mù. Bé Thơ nhớ có những khi anh Danh gò lưng đạp xe đạp chở Bé đi học, lên con dốc cao, bỗng anh phải dừng lại vì sương mù từ đâu ập tới làm anh không thấy đường. Sương mù những ngày mùa đông như đám bông gòn xốp, vây lấy hai anh em. Thế là Bé Thơ tha hồ tóm lấy, mà tóm có được đâu! Sương mù lại bay đi nơi khác rất nhanh.

     Nhà xưa đây rồi! Căn nhà nhỏ ở giữa một con dốc rất đẹp. Căn nhà thuở ấu thơ của anh em mình đây, không thay đổi bao nhiêu. Chỉ có một điều mới, đó là phía trước có thêm một lò gốm. Anh Danh bảo gọi là “lò gốm” cho oai chứ đó chỉ là một cái lò gốm mi-ni, lò gốm tí hon, anh chị chỉ sản xuất những món đồ trang trí chứ không có sức để làm ra những hũ bình lu khạp to lớn. Bé Thơ reo lên khi trông thấy những bức tượng búp bê, những con thú, những đồ chơi đủ loại dành cho con nít. Anh Danh hẳn đã có một cách sinh sống khá an nhàn. Nhưng hay hơn hết, là anh đang sống với cái thế giới trẻ thơ do anh tự tạo ra.


Và đây rồi! Những thiên thần bằng sành!
     Bé Thơ òa khóc. Những thiên thần nhỏ nhắn xếp tăm tắp bên nhau, anh Danh sắp đầy trong một cái tủ. Không phải là hai mươi, mà dễ có đến mấy trăm. Bé Thơ thương anh Danh quá! Ngày xưa, ngày Bé Thơ còn là đứa bé con sắp “tốt nghiệp mẫu giáo”, anh Danh đã làm cho Bé những thiên thần bằng sành. Hai mươi thiên thần. Đúng số tuổi hai mươi của anh. Số tuổi quá đẹp của đời người. Anh đã vội vàng bỏ Bé mà đi trong một buổi sớm mùa đông. Bé thức dậy reo vui khi thấy những thiên thần mơ ước của mình. Một mảnh giấy đặt bên cạnh những thiên thần đó với nét chữ của anh Danh: “Anh là Ông Già Nô-en, đêm nay đến tặng cho bé Thơ món quà này. Ông Già Nô-en hết tiền, nên chỉ cho bé hai mươi thiên thần bằng sành. Cho bé ngoan mãi”. Anh đã đi thật sớm. Đã đến ngày anh đi rồi! Tượng thiên thần thứ hai mươi chưa hoàn thành. Có một cái cánh gắn chưa kỹ vào vai. Dù thế, Bé vẫn cho nó nhập bọn với những tượng kia. Bé sắp cho các thiên thần đứng chung với nhau thành một dãy dài trên bàn học. Bé ngắm những đồ chơi đó và mỉm cười một mình. Tự nhiên Bé thấy nhớ anh Danh kỳ lạ. Khi đó anh đang đi ở một nơi nào. Anh không có mặt ở nhà để thấy Bé vui với những thiên thần nhỏ. Anh đi xa rồi! Bé phải đi học với chị Thi. Và những hôm chị Thi bận, Bé phải đi học một mình. Bé leo về con dốc cao, đường có nhiều hoa Cúc, dừng lại một chốc ở trước lò gốm. Người ta đang tiếp tục làm những chén đĩa hũ bình, phơi đầy sân và chờ đem bán. Lúc đó Bé muốn reo lên cho người ta biết rằng chưa có ai nghĩ ra việc làm những thiên thần bằng sành cho trẻ nhỏ. Chỉ có anh của Bé mới làm được mà thôi. Người ta sẽ hỏi rằng anh của Bé là thợ trong lò gốm, là họa sĩ hay là nhà điêu khắc? Bé sẽ đáp rằng anh của Bé chỉ là một người biết đạp xe đạp chở em đi học và biết mua kẹo cho em ăn. Kỷ niệm của anh Danh và Bé là đó!..
- Bé Thơ! Nín đi! Bây giờ Bé không cần ao ước nữa nhưng cũng có đến mấy trăm thiên thần. Bao nhiêu năm qua, cứ đến Nô-en thì anh lại ra sức làm những thiên thần bằng sành cho Bé, nghĩ đến một ngày Bé trở lại, Bé sẽ được vui với món quà này.
- Anh Danh, Bé cám ơn anh.
-Anh em mình mà!
-Anh Danh, ngày xưa mỗi năm nhận được quà Nô-en, Bé chỉ nói cám ơn Ông Già Nô-en mà không cám ơn anh. Bây giờ Bé phải nói cám ơn anh mấy chục lần. Nhiều thiên thần quá, Bé chắc phải đóng đến năm bảy thùng để đem đi đó!
Hai anh em ôn lại những kỷ niệm xưa tưởng chừng vô tận.

2
     Anh Danh dẫn Bé Thơ đi thăm “lò gốm” của anh, cái lò gốm chỉ làm toàn những đồ chơi và hàng trang trí. Anh nói như mơ màng trở về kỷ niệm:
- Bé Thơ biết không, ngày xưa anh nặn tượng thiên thần tặng Bé, vì là thợ gốm “tay ngang” nên không để ý rằng đồ sành sứ phải được nung lên thì nó mới bền chắc, nếu không thì sẽ nứt gãy. Cái lò gốm này, tuy “mi-ni” nhưng anh theo rất đúng quy trình của một nơi sản xuất gốm nhà nghề. Anh học một ông thầy tốt, truyền hết kinh nghiệm cho anh, và cũng là người giúp anh xây dựng cơ ngơi này, nhờ đó anh chị không đến nỗi chết đói. Hai vợ chồng làm lụng nuôi nhau, thế là vui.
- Bé cũng vui vì anh chọn ở lại và… không bị đói.
- Trời thương anh, Bé ạ! Ngày đó khi ba má dẫn các em đi, anh chọn ở lại vì không muốn mình trở thành gánh nặng cho gia đình trên bước đường vượt thoát và cả lúc về sau. Anh biết mình sẽ gặp khó khăn rất nhiều vì ở lại anh không được ai giúp đỡ hết. May mắn anh đã gặp chị, người con gái mồ côi trong chiến tranh, anh chị sống nương cậy nhau và lập nên cái lò gốm nhỏ này. Chị giúp anh rất nhiều đó! Trong những năm tháng đầu tiên, chị lái xe gắn máy đi chở đất về cho anh làm. Bây giờ anh chị sắm được chiếc Simca cà tàng của một gia đình đi định cư bán rẻ lại nên… anh lái. Mất một chân thì không được lái xe gắn máy nhưng được lái xe hơi, Bé thấy vui không?


    Bé Thơ nghẹn ngào nhìn chân anh Danh, cái chân đã mất. Anh Danh mất chân trên chiến trường sau ngày ký Hiệp định Paris năm 73. Cánh Dù đã rơi. Thiên thần Mũ Đỏ trở thành phế binh sau ngày “hòa bình” vì chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Cái ngày anh Danh trở về với cái chân đã mất, anh nói rằng anh không thể đạp xe chở Bé Thơ đi học được nữa. Bé đã khóc ròng vì thấy thiên thần phải chịu đớn đau. Chiếc xe đạp ngày xưa anh còn giữ trong cái kho sau nhà. Sườn xe, dây xích, “ghi-đông” đã rỉ sét hết. Hai bánh xe xẹp lép. Chỉ còn giữ lại những tiếng quay đều như reo vui khi Bé Thơ quay chiếc bàn đạp ngược chiều. Hai anh em theo tiếng quay đều ấy ngược về kỷ niệm.


    Và họ cùng bắt tay vào nặn tượng những thiên thần. Ngày xưa anh Danh đạp xe đi xin đất ở lò gốm, về nắn tượng, tô mầu, và thế là xong. Ngày nay đã trở thành thợ “nhà nghề”, anh Danh chọn mua đất sét thật tốt, khi muốn làm thì phải đập đất nhỏ ra, phun nước vào đất sét, nhào trộn rồi ủ qua một đêm, hôm sau mới đem ra, trộn đất với cát mịn rồi nhào cho nhuyễn trước khi nắn tượng. Nắn tượng thành hình dáng xong anh lại mang phơi dưới nắng một buổi cho khô bớt, rồi nhúng men, để khô, vẽ trang trí, rồi lại phơi nữa cho khô hẳn rồi mang đi nung. Bé Thơ biết làm giống như anh rồi! Bây giờ những sản phẩm đủ loại của anh, từ con heo “tiết kiệm”, cái tráp đựng nữ trang, cái hũ đựng tiêu hay muối cho đến những cái lọ đựng bút, những chiếc bình cắm hoa trang nhã… sẽ trở thành quà để các Ông Bà Già Nô-en mua về cho trẻ con. Những hang đá Giáng Sinh sẽ vui lên với các thiên thần nhỏ. Bé Thơ sẽ hưởng một mùa Giáng Sinh đầy yêu thương nơi này.

3
   Mấy anh chị em đi mua đất sét, tiện thể anh Danh thăm một người bạn đồng ngũ lâu ngày không gặp, sống ở khu vực gần đó. Anh và chị thay nhau lái xe, còn Bé Thơ thì không, chẳng là anh Danh đã bảo Bé Thơ “về đây là phải treo cái bằng lái lên giàn bếp”.

   Đi ra khỏi thành phố sương mù, mới thấy cả một vùng đất bao la. Thuở nhỏ Bé Thơ nào biết quê hương rộng như vậy. Những con đường dốc đầy đất đỏ trơn trợt, những hàng rào hoa quỳ nở vàng rực trong ngày đông, những buổi trời mưa giăng kín, những sáng sương mù mờ ảo, đó là “quê hương” trong tầm mắt của cô bé. Trở về quê hương sau nhiều năm xa cách, Bé Thơ tự hứa sẽ tìm thấy lại một quê hương to tát hơn, thoáng đạt hơn. Bé Thơ sẽ viết một ký sự về vùng đất này.

   Đến nhà người bạn ở huyện Bảo Lâm, anh Danh thất vọng. Người bạn đã dọn đi. Anh đứng lại hỏi thăm. Những nhà hàng xóm cũng đang rục rịch dọn đi. Đi đâu? Họ tỏa ra nhiều phương hướng, nhường vùng đất này cho một dự án lớn. Ở đây làm sao sống?! Hoa màu do họ trồng trọt làm ra, cà phê và chè, đã bị nhiễm độc. Họ lắc đầu ngao ngán. Mấy anh chị em lên xe đi về hướng dự án đang thực hiện. Và chỉ được đứng ngó từ xa. Đây rồi, quê hương to tát của Bé Thơ! Một thung lũng hiện ra đỏ rực. Dưới đó, những chiếc xe lu, những chiếc máy gạt, máy xúc, xe chạy đất… hoạt động rì rầm, trông xa nhỏ như những chiếc hộp diêm. Chúng đang làm những công việc cuối cùng trong việc xây dựng hồ bùn đỏ!

    Mấy anh chị em đứng chết sững. Một quê hương bị tàn phá. Đất thịt đang bị cày xới để bán đi. Màu đỏ của những con đường thơ mộng cũng là màu đỏ của “tài nguyên” đang bị bán. Bauxite!!! Mai đây bùn đỏ sẽ theo những vết rò rỉ tràn ra đầy cả vùng đất dân cư đang sinh sống. Cây cối sẽ chết. Con người sẽ phải bỏ chạy. Những điều Bé Thơ chỉ nghe, bây giờ hiện ra rất rõ trước mắt. Những tiếng động cơ từ xa vẫn vang vọng thấu óc. Đất đỏ màu máu nhức nhối như chảy ra từ tim.

4
    Mùa đông sẽ tàn lụi, Bé Thơ biết như thế. Cả những cơn gió lạnh rồi cũng sẽ không còn. Còn một thứ vui thích của Bé ngày xưa là được nhận những món quà của “Ông Già Nô-en” cũng không còn nữa. Bé Thơ đã lớn, đã làm Ông Già Nô-en cho những đứa con của mình. Nhưng ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh bao giờ cũng trọn vẹn. Vì Bé biết trong những ngày chuẩn bị cho Giáng Sinh, những thiên thần nhỏ từ bàn tay anh Danh và Bé làm ra sẽ đến với các hang đá của thành phố này, trong những căn nhà nhỏ xinh xắn ở phố chợ, nơi ven đồi, hay bên bờ suối. Cho dù là ven đồi loang lổ vì bị cạo gọt cày xới, hay bờ suối nhem nhuốc uế nhiễm vì con người vô tâm, những người dân của xứ sở mù sương này vẫn là những con người thuần hậu. Cho dù những con đường sạch sẽ trong thành phố một thời thanh lịch đã được thay bằng những con phố rộng lớn nhưng lề đường bình an cho khách bộ hành lại chỉ còn dành cho xe cộ quán sá, người dân cũng biết co lại để tự bảo vệ lấy những gì tốt đẹp xưa của mình. Cho dù những ngôn từ lạ lẫm dùng tiếng lóng làm nền có tràn ngập trong sinh hoạt, người dân hiền lành cũng biết dạy cho con em mình những ngôn ngữ hiền hòa một thời làm nên phong cách của họ. Nhưng tội nghiệp lắm, mỏng manh lắm, cái sức đề kháng âm thầm đó!

    Bé Thơ dành nhiều thời gian để đi thu nhặt hình ảnh về “quê hương to tát” của mình. Bé vẫn sẽ viết một ký sự. Nhưng chắc là ký sự này sẽ không thơ mộng một chút nào. Ký sự sẽ nói thật rõ về những vùng-đất-thịt bị cày xới bán rẻ cho ngoại bang, về những người dân hiền lành bỗng chốc thấy mình xa lạ trên chính quê hương của mình.
Anh Danh thì lại có thêm một suy nghĩ mới: anh đang nghiên cứu làm ra những đất sét màu, không độc hại, dành cho các học trò mẫu giáo và tiểu học. Anh nói người ngoại quốc qua mua đất sét của nước mình về làm ra đất sét màu rồi bán lại cho mình để dùng trong trường học. Một thời tuổi thơ của anh đã trôi qua, anh muốn làm chút gì để đền lại cho người khác.
Những ngày đông đã tàn lụi. Lễ Giáng Sinh trôi qua êm đềm. Ông Già Nô-en được Bé Thơ cám ơn đến một trăm lần. Tượng thiên thần gãy cánh năm xưa anh Danh làm vội trước khi ra lại vùng hành quân đã được hàn gắn kỹ chiếc cánh gãy vào vai và được phủ thêm một lớp men sáng bóng. Bé Thơ phải đi.

5
     Bé Thơ đứng trong phi trường San Francisco. Bé đã dặn người nhà đừng đón, vì Bé sẽ đến ngay tòa báo. Bé muốn làm việc ngay trước khi trời tối rồi sẽ về nhà. Bao nhiêu năm nay vẫn vậy. Cô bé có cái số di chuyển đã không ngừng nghỉ dù ở trong hoàn cảnh, trong công việc nào, đến đâu là bắt tay làm việc ngay nơi đó.
Bé Thơ vào taxi. Chiếc xe chở Bé đi lên phố, rồi qua cầu Golden Gate. Bé hít một hơi dài như tìm chút thoải mái. Bé ngoẹo đầu định lim dim mắt nghỉ một chút. Nhưng kìa! Trên phần đường nhỏ sát thành cầu dành cho xe đạp và khách bộ hành, có hai anh em chở nhau trên chiếc xe đạp. Bé Thơ nhỏm dậy nhìn. Xem chừng lúc này trời đang gió khá mạnh. Đứa anh gò lưng đạp, trông hơi khó khăn giống như người ta đang đạp xe lên dốc. Đàng sau, đứa em gái nhỏ nhắn ôm chặt lấy anh.


    Rồi bỗng đâu một đám sương mù cuồn cuộn bay tới. Đám sương mù vây lấy hai anh em. Và không thấy rõ họ nữa…
Thảng thốt, Bé Thơ lấy điện thoại ra, gọi về anh Danh. Đầu bên kia anh Danh hỏi:
- Bé Thơ?
- Dạ, anh Danh…
- Bé đã đến nơi?
- Dạ.
- An toàn hả Bé?
- Dạ…Anh Danh ơi!
- Sao Bé?
- Anh Danh ơi, Bé nhớ anh lắm!
Rồi Bé Thơ bật khóc. Sương mù vẫn che kín hai anh em đang đạp xe trên cầu. Bên kia, anh Danh hẳn đang nghe Bé sụt sùi. Giọng anh nhẹ nhàng, ấm áp:
-    Bé Thơ, đừng khóc. Những thiên thần Bé đem theo về đó, chúng có những đôi cánh vững vàng, hãy cho chúng bay cao, bay cao lên mãi, Bé nhớ nhé!
-    Dạ, Bé sẽ nhớ. Anh Danh ơi! Bé nhớ nhà của mình. Bé nhớ quê của mình.
- Nhớ quê của mình, Bé nhớ câu gì anh em mình nói với nhau không?
- Bé nhớ. “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperriem, Give Pleasure to Some and Freshness to Others”, câu của ông Yersin lấy làm tên cho Đà Lạt của mình.
- Phải rồi, Bé. “Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành”.

 

alt

 

Giáng Sinh 2011


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo, Số 49, Tháng 12, 2011