Những bài mới nhất

 

alt

 

Ba nhắc tôi:
- Mặc nhiều áo vào con ạ! Trời lạnh lắm đó!
- Dạ.
Tôi “dạ” rồi lẳng lặng vào lấy thêm áo khoác. Hai cha con ra xe. Như một công việc quá quen thuộc hàng ngày, Ba đưa tôi đến trường. Trường học chỉ cách nhà tôi ba “block”, nhưng Ba vẫn đưa tôi đi, Ba không muốn tôi phải co ro trong tiết trời lạnh lẽo này nếu tôi đi bộ.

Đến trường, hai cha con nói “Bye” với nhau thật ngắn gọn. Ba lái xe đi. Mười tiếng đồng hồ nữa tôi mới gặp lại Ba. Bỗng nhiên hôm nay tôi dừng lại một chút ở cổng trường, ngoái nhìn theo Ba. Tôi không kịp thấy gì ngoài cái đuôi xe màu xám bạc. Rồi tôi liên tưởng đến màu trắng xám trên mái tóc của Ba. Một cách không cố ý, hai bàn tay của tôi nắm chặt lại. Tôi nghe tiếng thở dài của mình. Tôi bước theo đám học sinh, vào trường.

Giờ ăn trưa, trong khi các bạn xúm xít với nhau bàn chuyện lễ Giáng Sinh, tôi lặng lẽ đến ngồi ở một góc vắng. Tôi phải len lén chứ không thì chẳng yên thân với tụi nhóc. Thật ra thì khi tôi học hành, vui chơi cùng các bạn, tôi cũng là một cô học trò linh hoạt lắm. Nhưng khi ngồi yên tĩnh một mình, tôi như sống bằng một phần già dặn của chính tôi. Mấy đứa bạn thân không cần tinh ý gì cả cũng biết là tôi buồn vì không được sống gần mẹ. Nhưng tụi nó không muốn nói nhiều về điều đó nên thường để tôi một mình khi thấy tôi cần như thế. Dù sao, ở cái tuổi mười lăm như chúng tôi đây, cũng đã mang một chút gì “người lớn” trong cách suy nghĩ và xử sự.

Nhưng tôi còn có Ba. Ba cũng thương tôi lắm, chăm sóc tôi không thua một ông bố nào mà tôi biết. Ba đưa đón tôi đi học, giúp tôi làm bài, chở tôi đi chơi, đi mua sắm, thật như kiêm luôn cả phần việc của một người mẹ nữa. May là tôi cũng đã lớn, chứ không thì còn được Ba bồng bế, dỗ dành và ru ngủ nữa. Tôi cảm nhận được hết cái tình trìu mến của Ba. Tôi không đòi hỏi gì hơn. Nhưng tôi thấy rất rõ, giữa Ba và tôi vẫn có một khoảng cách. Vì tôi là con gái chăng? Không đúng. Mà có lẽ cái khoảng cách ấy chính là sự thiếu vắng của Mẹ.

Ở trường chúng tôi ăn cùng một thực đơn như nhau. Những thức ăn nhà trường cung cấp là quá đủ cho chúng tôi. Nhưng bạn tôi hầu như ai cũng có một chút gì mẹ chuẩn bị cho đem theo ăn thêm. Tôi thì không. Đó cũng là điểm khác biệt. Có khi tôi cũng được chia những thức ăn “phụ trội” đó. Tôi thưởng thức mà không suy nghĩ. Nhưng cũng có khi vì đó mà buồn.

Bữa ăn tối, thường thì hai cha con cùng nhau nấu nướng. Nhưng có những lúc tôi sắp thi, ba tôi lại giành nấu một mình. Có khi lười quá Ba lại lái xe ra ngoài để mua “cơm chỉ”. Mà ở đây lại là “cơm chỉ” của Mỹ. Mấy món ăn của tiệm “cơm chỉ” cũng ngon nhưng nhiều chất béo quá. Tôi là con gái nên sợ béo. Tôi không dám chê, nhưng hay len lén nhìn Ba. Tôi thấy Ba không lộ vẻ gì, nhưng khen thì Ba cũng không khen.

Đêm thì hai cha con hai phòng sát bên nhau nhưng tôi thường đi ngủ trước. Ba ngồi làm việc hay xem ti-vi một mình rồi Ba đi ngủ hồi nào tôi không hay. Và đó là xong một ngày của hai cha con. Cuộc sống có vẻ đơn điệu quá phải không?

***

Chiều nay tôi đi bộ về một mình vì Ba tôi làm thêm giờ. Tôi đi một đoạn ngắn với nhỏ Tina rồi chúng tôi chia tay ở trước nhà nó. Đi đến chỗ cây sồi to, tôi dừng lại và giật mình khi nhớ đến một chuyện đã khá lâu rồi, khi tôi mới bốn tuổi. Lúc đó Ba đi làm xa nên Mẹ là người đón tôi. Tôi được ngồi trong xe ấm áp nhưng tôi lại đưa mắt thèm thuồng nhìn các bạn đi bộ ngoài đường. Tôi buột miệng hỏi Mẹ:
- Mẹ ơi! Sao mẹ không cho con đi một mình như các bạn ấy?
Mẹ cười:
- Nhà các bạn ấy ở gần hơn nhà mình. Có bạn thì cha mẹ đi làm hết nên bạn đi một mình. Con sung sướng có mẹ đưa đón mà con không vui sao?
- Con… con cũng thích đi bộ một mình giống như các bạn.
Mẹ lắc đầu:
- Con xem bạn Dalena kìa! Nó phải đi một mình vì mẹ nó mất rồi!
Tôi im lặng. Bỗng tôi lẩm bẩm thật nhỏ tưởng mẹ không nghe:
- Bạn ấy vậy mà sướng!
Nhưng Chúa ơi! Mẹ lại nghe rất rõ. Mẹ lái xe tấp vội vàng vào ven đường, nơi có cây sồi to tướng này. Mẹ thắng xe “két” một cái nghe chói tai, rồi Mẹ đưa hai tay ôm lấy đầu. Mẹ khóc nức nghẹn không thành tiếng. Tôi hoảng sợ, bật khóc theo và xin lỗi mẹ rối rít. Sau này, tôi có dịp tâm sự cùng cô giáo dạy môn English, tôi được cô cho biết là có rất nhiều bạn nhỏ cùng suy nghĩ như tôi vì muốn chứng tỏ mình độc lập. Cô khuyên tôi đừng buồn. Nhưng tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ lại chuyện ấy và có tâm trạng mình đã làm lỗi với mẹ.
Tôi rẽ vào cái ngõ cụt của nhà tôi. Hai cha con, hai chìa khóa riêng, tôi không phải lo. Tôi nhìn một lượt vòng quanh những nhà hàng xóm, cảm thấy không khí xung quanh có chút rộn ràng. Kìa! Đèn hoa và các vật trang trí trước những ngôi nhà đã đầy cả rồi!

Tôi mở khóa, bước vào nhà. Tôi đã quen với cái tĩnh mịch của căn nhà mình sống. Tôi quen dọn dẹp nhà cửa mỗi khi về đến, và nấu thức ăn cho hai cha con. Tôi dừng lại trước tủ lạnh, ngắm những tấm ảnh gia đình tôi đã đính thật nhiều trên cánh cửa bằng những miếng hình có nam châm đủ màu sắc lưu dấu những danh lam thắng cảnh. Như một thói quen không thể thiếu mỗi ngày, tôi mỉm cười chào những người trong hình: Ba, Mẹ và tôi.

***

Ba mang về một cây thông Giáng sinh. Đó là một cây thông giả. Nhà tôi đã bỏ hẳn lệ chưng cây thông thật từ khi tôi phát sinh chứng bệnh dị ứng với mùi nhựa thông. Cây thông giả của những năm trước, sau khi dùng đi dùng lại đã cũ nên Ba muốn mua cây mới. Khi Ba nhờ tôi phụ để lắp nó, tôi rất ngạc nhiên nhận ra đó là một cây thông có lá màu bạc. Toàn cây cũng là màu bạc. Tôi thắc mắc:
- Sao lại là màu bạc hở Ba?
- Đó là màu đặc biệt nhất đó con. Màu xanh thì mình đã biết từ bao lâu nay rồi!
- Nhưng con thấy cái cây thông màu bạc thì trông không vui.
- Ba sẽ trang trí những đốm tuyết trắng, rồi treo đèn kết hoa lên thì vui ngay.
- Con không thích. Thông là cây evergreen, làm sao mất màu xanh được? Con nghĩ nhà sản xuất cây này có tâm tính hơi khác thường, làm ra cái chuyện không đúng sự thật.
Ba nghe tôi chê thẳng thừng thì tỏ vẻ thất vọng. Nhưng Ba vẫn cố thuyết phục tôi:
- Con nhìn một lát sẽ thấy đẹp.
- Đẹp gì? Con nghĩ đó chỉ là tự ép buộc mình thôi. Con không quen nhìn màu bạc này trên một cái cây lẽ ra phải xanh.
- Con thật khó tính!
Nghe Ba nói hơi gắt, tôi bỗng khựng lại. Cảm giác khó chịu làm tôi bỏ đi vào bếp. Tôi nghĩ Ba không để ý đến con gái mình nghĩ gì, Ba “theo thời”, và chắc chắn là cái cây thông này phải mắc tiền hơn những cây thông “cổ điển” lâu nay.

Ba thấy tôi giận, nên đi vào gợi chuyện:
- Sao? Tối nay con gái cho Ba ăn món gì?
Tôi đáp nhẹ:
- Như mọi ngày thôi Ba!
- Vậy tốt rồi! Ba chỉ mong một ngày như mọi ngày.
Tôi kịp nghe tiếng Ba thở dài thật nhỏ. Tôi thấy hơi hối hận vì mình đã hờn mát với Ba. Tôi đang suy nghĩ một câu nói đùa để chọc Ba cười, thì có tiếng chuông điện thoại reo. Ba đi bắt máy. Tôi nghe loáng thoáng nhưng đoán được ngay điện thoại từ đâu. Ba nghe điện thoại xong, đến gần bên tôi, và không đợi tôi hỏi, Ba nói:
- Cô y tá nói Mẹ không còn đập phá, nhưng đã hai ngày nay bỏ ăn, không nói gì, chỉ ngồi ủ rủ trong một góc.

***

Mấy hôm nay buổi chiều tôi phải đi bộ về nhà một mình, vì Ba sau khi tan sở đã ghé bệnh viện thăm Mẹ, thật tối Ba mới về. Tôi cũng chuẩn bị cơm chờ Ba về rồi hai cha con cùng ăn. Tôi không thể thăm Mẹ hàng ngày như Ba được, mà phải chờ đến cuối tuần, vì Ba muốn tôi có đủ thời gian để làm bài. Mà đã bao năm nay vẫn là như vậy rồi. Chỉ khi nào Mẹ có những biểu hiện khác thường thì Ba mới vào thăm mỗi ngày, ngoài ra hai cha con chỉ vào thăm Mẹ mỗi cuối tuần. Thời gian đầu, khi Mẹ phải ở lại bệnh viện như một bệnh nhân nội trú, Ba như phát điên lên. Mãi sau, Ba đành phải chấp nhận sự thật: Mẹ không thể chung sống với gia đình như những người phụ nữ bình thường được nữa. Căn bệnh tâm thần của Mẹ đã quá nặng! Đứa con gái cần có người mẹ để chia xẻ, hướng dẫn và giúp đỡ nhiều nhất, đã phải chấp nhận sống xa mẹ. Vâng, tôi cũng đã phải chấp nhận sự thật đó. Cho đến bây giờ, tôi nhìn lại vẫn cảm thấy tủi thân ghê gớm. Ba là đàn ông, có thương con đến mấy cũng khó có thể hiểu thấu và chia sớt cùng con.

Tối nay tôi đã tận dụng thời gian Ba chưa về để làm xong bài tập Toán. Tôi được rảnh rồi! Chỉ còn chờ Ba về là ăn cơm thôi, cũng hơi trễ một chút nhưng hai cha con còn có thời gian để xem một phim gì đó trên ti-vi. A! Tôi bỗng thấy mình có việc làm, khi nhìn qua phòng khách, cây Giáng sinh chưa được trang hoàng gì cả. Ba quá bận rộn mà! Tôi sẽ làm cho Ba có chút ngạc nhiên chứ? Con gái Ba sẽ được khen là giỏi. Tôi tủm tỉm cười và đi sang đó. Trong khi soạn những hộp đựng đồ trang trí cho cây thông, tôi liếc nhìn qua góc làm việc của Ba, bỗng thấy trên bàn chiếc máy computer chưa tắt. Ba hẳn đã ngủ gà ngủ gật ở đây đêm hôm qua ư? Ba lại mê viết lách chi đây? Ba thật là người tham công tiếc việc! Từ bao lâu nay Ba vẫn mê công việc như thế. Phải tắt máy giùm Ba thôi. Tôi chạm nhẹ nút “enter”. Màn hình hiện lên một trang đang viết dở. Không phải là những khung tài liệu “excel” như thường lệ, mà toàn những chữ, như một bài văn. Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt tôi: “Anh rất ân hận…”

***

“Em! Anh rất ân hận vì đã không biết trân quý em. Mọi cái anh đều coi như chuyện đương nhiên là như vậy. Đến bây giờ, khi gặm nhấm nỗi nhớ ray rứt, đối diện với sự cô đơn, anh hiểu thế nào là sự thống khổ. Anh không dám để lộ cho con biết, dù với sự tinh tế của con, nó sẽ dễ dàng lắng nghe lời anh thố lộ.

Ngày trước, khi em mỗi tháng tay xách nách mang đi thăm nuôi anh, anh đã thương em biết bao! Mỗi lúc nhìn em quay lưng đi và chìm cái dáng gầy gò nhẫn nhục trong dòng người, anh ứa nước mắt tự nhủ “Nếu được trở về, tôi sẽ làm mọi cái để cho vợ tôi được hạnh phúc”.

Bao nhiêu gian nan rồi cũng vượt qua được một cách kỳ diệu. Sang bên này, mọi cái bỗng không được như mình nghĩ. Anh và em phải đi làm cật lực mới đủ sống. Mình đã không dám sinh con. Dù chưa đến nỗi như cảnh hai vợ chồng trong một câu chuyện mình đọc được trên báo: họ chỉ gặp nhau ở trạm xăng, khi người vợ làm ca đêm trở về và người chồng bắt đầu đi làm buổi sáng, nhưng anh và em cũng không có nhiều thời gian dành cho nhau. Khi anh chọn được một công việc vừa ý, hợp với khả năng của mình, anh đã đam mê công việc nhiều hơn là nghĩ đến em. Mỗi ngày mình trở về từ hãng, em lủi thủi làm bếp, và anh ngồi miệt mài với những giấy tờ của sở. Có hôm nghe tiếng em xuýt xoa vì bị dao cắt trúng tay, anh ngồi bên này hỏi vọng sang “Em có sao không?”, rồi nghe em trả lời “Không sao”, anh lại tiếp tục công việc của mình. Cho đến mấy ngày hôm sau, thấy em đi bác sĩ, anh mới biết là vết thương khá sâu trên ngón tay em bị làm độc. Ôi anh thật là hời hợt! Thế mà rồi đâu cũng vào đấy. Một lần đến chơi nhà bà con, em bưng tô phở nóng sôi bị vấp té. Anh thấy các bà các chị xúm lại giúp em, anh đã không theo em vào phòng để xem vết phỏng, và anh vẫn chén chú chén anh với mấy người đàn ông. Ngày qua ngày, anh càng tỏ ra là một người không quan tâm đến em khi anh quá ỷ lại vào những người xung quanh.

Những chuyện đó có người sẽ cho là rất nhỏ, nhưng trong nỗi ân hận của anh, chúng lại trở thành ray rứt vô cùng. Ôi, anh ước gì ngay bây giờ em đang có trước mặt anh để nghe anh xin lỗi. Anh đã phạm một tội lỗi mà chính anh không tha thứ cho mình, đó là anh đã quên mất căn bệnh của em. Ngày anh quen em, anh đã rất xót xa vì biết em mang một tâm bệnh. Phần vì em có mang một tính di truyền, trong dòng họ của em đã có người cậu bị bệnh tâm thần, phần vì em là một sinh viên rất đam mê học hành. Em đặt hết tâm trí vào việc học, em luôn muốn được đậu cao. Đậu cao! Hầu như cái thời của mình ai cũng mơ đậu cao. Nhưng em đã bị tác dụng của sự đam mê ấy làm mất quân bình. Cuối năm thứ nhất thi hỏng vài môn, em đã phát bệnh. Lúc đó em rất hiền, ngồi bên anh, em bảo em nghe có tiếng người nói thì thầm vào tai, có lúc như có một người khác đang “ở trong em”. Thế thôi! Người nhà đưa em đi chữa thuốc. Sau đó em yên ổn trở lại. Từ sau ngày cưới của mình, em đã như một người hoàn toàn khỏe mạnh…

Em! Một người nào đó đã nói: “Con người ta có thể dũng cảm đương đầu với những sự gian khó, nhưng lại không sống nổi với sự nhàm chán và cô đơn”. Có phải là trường hợp của em đó không? Em rất can trường nhưng em cũng rất yếu đuối. Em rất vững chãi nhưng em dễ ngã quỵ. Anh đã không nghĩ đến điều đó. Thời gian em mang thai, anh cũng không ngờ đến căn bệnh tiềm ẩn của em. Anh tưởng sống vui vẻ với nhau là đủ rồi, thật đơn giản. Ôi anh không thể tưởng tượng được, cái ngày đứa con gái xinh xắn của mình tròn năm tuổi là ngày bệnh của em tái phát. Em biết rõ như vậy nên em rất kềm chế mình. Những lúc em nổi cơn giận dữ thì anh lại không có bên cạnh. Anh ham mê công việc ở hãng và phó thác em cho người được Sở Xã hội gửi đến giúp. Em vì bệnh nên không thể tiếp tục đi làm, trong khi em là người dệt thật nhiều những ước mơ tốt đẹp về sự nghiệp. Điều này tác dụng y như việc trước kia em bị thi hỏng. Và bệnh của em ngày càng nặng thêm.

Mimi được năm tuổi thì mẹ lại phải xa con. Tình trạng của em quá tệ đến nỗi tất cả mọi người, từ bác sĩ đến người thân, đều khuyên anh đưa em vào ở trong bệnh viện để được điều trị thích hợp và cũng để giữ an toàn cho con. Anh không còn cách chọn lựa nào khác. Mỗi lần anh cùng Mimi vào thăm em, anh như thấy em đổi khác một chút. Em cũng trò chuyện, nói cười, nhưng đột nhiên em như chìm vào một cõi xa lạ nào chỉ có mình em biết. Và anh thường dắt con ra về trong một cảm giác hụt hẫng đau đớn. Có phải đó là sự trừng phạt Trời dành cho anh không hở em?

Mười năm qua anh sống trong một cảm giác vô cùng nuối tiếc những ngày chúng ta vui buồn có nhau. Anh cố gắng làm tất cả cho con của mình được sung sướng. Nhưng anh như người lính ra trận không có chiến hữu. Anh không thể tâm sự với em được nữa rồi! Những lúc vào thăm em, nói chuyện với em, anh chỉ là một người ngoại quốc. Có lúc em tỏ vẻ lắng nghe anh rồi bỗng cười phá lên và hỏi “anh nói cái gì?”… Em không còn có thời gian, không gian để chia xẻ cùng anh nữa.

Mấy hôm nay em đã trở bệnh thành một trạng thái khác, không còn khích động hung hăng. Anh vào thăm, thấy em ngồi im lìm trong góc phòng, hỏi gì cũng không nói. Bác sĩ cũng không hiểu em nghĩ gì. Nét mặt của em lạnh như một tảng băng. Là vì sao hở em? Anh muốn tảng băng đó phải được ấm lên. Làm thế nào đây? Anh tự hỏi và không có câu trả lời. Anh đã kiệt sức!”

***

Ba và tôi đã hoàn thành cây Giáng sinh kịp trước lễ. Không khí của đêm Chúa ra đời thật bình an tuy ngoài trời tuyết rơi nhiều. Xứ Lake Tahoe của tôi năm nay trời lạnh hơn mọi khi. Tôi chuẩn bị một vài món ăn cho tiệc “réveillon”, chữ này Ba bày tôi nói theo tiếng Pháp đó! Tôi biết làm các món ăn nhờ sưu tầm và học hỏi qua sách báo, internet và ti-vi, chứ tôi đâu được học ở mẹ như các bạn khác. Tôi bày tất cả thức ăn trên bàn, và ngồi chờ.

Ba về! Và có cả Mẹ nữa! Tôi đã hồi hộp chờ đợi giây phút này. Mẹ ngơ ngác nhìn quanh khắp nhà như đang đến một xứ lạ. Mẹ thờ thẫn nhìn tôi lúc này đang ôm lấy Mẹ. Tôi không cần biết Mẹ có nhận ra tôi là ai không nữa. Nhưng tôi biết rằng lòng tôi đang được ấm lên, rất ấm.

Ba đưa Mẹ vào phòng khách, dìu Mẹ ngồi xuống chiếc ghế tròn từ ngày nào vẫn là dành riêng cho Mẹ. Chiếc ghế này tôi cũng rất thích, vẫn thường thay Mẹ ngồi vào đó để cảm nhận cái sung sướng muốn cuộn mình ngủ vùi như một con mèo nhỏ. Mẹ tỏ vẻ hài lòng. Và Mẹ nhìn sang cây Giáng sinh. Đôi mắt của Mẹ bỗng sáng lên như có hồn. Mẹ lẩm bẩm:
- Cây thông! Cây thông… màu bạc! Ô, sao có cây thông màu bạc???
Ba bật khóc. Ba quỳ xuống bên cạnh Mẹ, nói với giọng xúc động:
- Phải, cây thông màu bạc. Em có nhớ gì không?
Mẹ lắc đầu. Ba nói trong sự nhẫn nại:
- Cây thông trên ngọn đồi gần Viện Pasteur Đà Lạt, em nhớ không? Năm đó, anh nghỉ phép về cưới em, mình được thêm mấy ngày để đi Đà Lạt. Mình đã tinh nghịch chạy lên ngọn đồi trước mặt Viện Pasteur để chặt cây thông con về làm cây Giáng sinh. Khi hai đứa khệ nệ mang đi, có người chạy theo cho biết là cảnh sát sẽ phạt những ai đốn chặt cây thông con, vì đó là điều cấm. Hai đứa hoảng hồn. Em nảy ra sáng kiến vào tiệm bán sơn mua một lon sơn. Hết sơn trắng để giả làm tuyết, mình đành mua lon sơn màu bạc, hai đứa thi nhau phết sơn lên cành cây. Thế là ra một cây thông màu bạc. Hì hục sơn xong, anh và em nhìn quanh thấy mọi người bu lại như coi hát xiệc. Trong số đó có một anh cảnh sát. Anh ấy lắc đầu, cười hai đứa mình già đầu mà dại như con nít. Thật không giống ai! Thế nhưng cây thông được bưng về tặng cho trường học vì mình đâu có nhà ở đó mà chưng. Thế rồi…
Ba đang nói huyên thuyên bỗng ngưng bặt, vì Mẹ đang cười thật giòn. Như có một phép lạ nào làm cho cả gương mặt của Mẹ sáng lên rạng rỡ. Mẹ thật đẹp như Mẹ trong những bức hình tôi ép vào sách để ngắm mỗi ngày. Ký ức của Mẹ có phần nào đã sống lại chăng? Tất cả những gì Ba vun đắp bấy lâu, bằng nỗi buồn phiền, thất vọng, nhớ nhung, ân hận, và tình yêu, đã được đền lại bằng phút giây này!

Giáng Sinh 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

alt

1

Anh Danh thả bé xuống sau khi đã chở bé đi hết con dốc. Anh vuốt tóc lại cho bé, và quàng dây chiếc cặp qua vai cho bé.
- Vào trường đi! Chiều anh tới đón.
- Nhớ nghen! Anh Danh không được trốn đi nữa đó.
Anh bẹo má bé, và bỗng nhìn thật lâu vào đôi mắt đang mở tròn to ngơ ngác. Chắc bé không hiểu gì đâu! Bé hẳn đang nghĩ rằng anh Danh kỳ quá, cứ biết trêu chọc con nít thôi, ngoài ra không làm được gì hết. Có một nỗi vui chợt đến cùng lúc với một nỗi buồn. Anh muốn cười to, và đồng thời cũng thấy muốn khóc. Bé ngây thơ vô tả. Bé xinh xắn giống như mọi đứa bé trên thế gian. Bé vui tươi khôn cùng. Mà anh thì già khụ hơn ông lão. Anh xấu xí đen đúa so với bé. Và anh hay buồn. Thật vô duyên như một đám mây đen lẻ loi giữa bầu trời xanh. Bé đã quay lưng. Anh muốn theo bé vào trường. Nhưng thôi. Đám mây đen phải theo gió mà bay đi.

Bé ngoảnh lại, dặn thêm:
- Chiều anh nhớ đến đón.
Anh gật đầu, rồi leo lên xe đạp. Có tiếng “cót két” dường như ở yên xe, nơi bàn đạp, hay trước tay cầm – không biết. Nhưng đó là một sự tố cáo rằng anh đã lâu không dùng đến chiếc xe này. Ai cũng có sở làm xa, cũng đi xe gắn máy. Bé nhỏ xíu thì đi học phải có người đón đưa. Chỉ có anh xa nhà quá lâu. Hơn nửa năm còn chi! Anh trở về khi mùa đông gần tàn lụi. Anh gặp lại chiếc xe đạp vẫn để ở trong căn phòng sau lưng buồng ngủ, như gặp lại những người thân, gặp lại bé. Chiếc xe đạp giúp anh đi chơi trong những ngày giờ trống, và chở anh với bé thả dốc, leo dốc, đưa đón bé đi học. À, thế thôi. “Kỷ niệm” là như vậy thôi. Anh còn vài ngày nữa để “làm kỷ niệm” trong tâm trí bé. Khi anh tiếp tục đi xa nhà như bao lâu nay, bé sẽ nhớ, ít ra là nhớ những ngày gió lộng được anh chở đi học – Con dốc dài có nhiều hoa Cúc vàng mọc bên đường, ngang qua lò gốm và dẫn đến ngôi trường nhỏ – Những ngày cuối đông nghe lạnh hơn mọi khi – Những cụm mây xám trên nền trời buồn – Và tiếng “cót két” của chiếc xe đạp cũ kỹ thân mến – Kỷ niệm là đó, bé!

Anh đạp xe leo lên con dốc cũ. Không có bé sau lưng, anh vẫn cảm thấy nặng nề. Bởi con dốc khá cao. Nhưng đã nói trời lúc này lạnh hơn mọi khi, nên anh không thấy mệt. Anh bỗng nhớ lại lúc mình mới mười ba, mười bốn tuổi, chiều nào cũng rủ bạn bè đua xe đạp với nhau, vượt những quãng đường thật dài, chạy đến toát mồ hôi mới chịu. Thuở bé ai cũng có những ngày giờ và những việc làm thật vô ích – người lớn sẽ nghĩ như vậy. Nhưng phải là con nít mới cảm thấy thú vị, sung sướng khi rong chơi, nghịch ngợm và đấm đá nhau. Bé sẽ lắc đầu và trề đôi môi mỏng hồng thắm ra mà cười khi biết anh thuở nhỏ như thế. Vì bé là con gái. Bé có nhiều trò chơi hiền dịu, dễ thương hơn của anh. Bé có ba bốn đứa bạn ngoan quá là ngoan. Bé có một con búp bê nhỏ bằng củ khoai lang. Bé có một con chó bằng len của chị bé làm cho, trắng như bông gòn. Và bé có một rổ đựng son, chảo, chén, đũa bằng nhựa quá xinh. Anh không biết chơi kiểu như bé. Nhưng không ai cấm được anh thích thú khi nhìn bé bày hàng. Anh muốn ngồi xuống chơi với bé. Anh muốn giả giọng “bà cụ non” nói với bé:
- Bán cho “tui” năm đồng chè đậu đen đi “bà”!
Không ai cấm được anh ngắm bé ôm búp bê ru ngủ. Anh không phải nhà thơ nên không biết nói gì để ca tụng bé. Chỉ biết rằng đứa bé nào ôm một con búp bê, một cái gối hay một khúc gỗ giả làm em bé mà ru ngủ thì cũng đều dễ thương cả.

Anh gò lưng đạp xe lên dốc, nhưng dừng lại ở ngang lò gốm. Những hũ, bình, chén, đĩa phơi ở trước sân trông đẹp quá! Anh leo xuống, nhặt một mẩu đất sét. Đất kêu nhẹp nhẹp giữa mấy ngón tay. Anh lại đang làm một công việc vô ích đây chăng? Có gì đẹp đẽ ở mẩu đất sét? Anh không có bàn tay khéo léo để làm ra những chén đĩa lọ bình như mấy người thợ kia, nên đất sét vào tay anh trở thành vô dụng. Anh hờ hững quăng mẩu đất sét đi. Mấy ngón tay anh còn dính lại một chút đất sét. Quái, hình như hồi còn bé có lần anh đã lẩn thẩn hỏi: “ Tại sao việc gì qua đi cũng để lại dấu vết nhỉ?”. Rồi anh lại tự cho rằng đó là lẽ đương nhiên, nó phải như thế. Như bị đòn thì phải còn lại dấu roi, ăn vụng thì thường dính mép, khóc xong thì mắt phải đỏ, và đạp xe mãi thì chân phải mỏi. Nghĩ như vậy đó, thật là trẻ con và lẩm cẩm. Tự nhiên anh nghĩ giá anh là một người thợ lò gốm chắc anh sẽ làm cho bé thật nhiều đồ chơi bằng sành, bé sẽ thích lắm vì đẹp hơn đồ chơi nhựa. Vì anh muốn mai kia anh đi rồi anh sẽ còn để lại cho bé một vài dấu vết. Ít ra bé sẽ nhớ hoặc nghĩ đến anh một lần trong mỗi ngày, khi nhìn các món đồ chơi bằng sành đó. Uổng quá! Anh không làm nên tích sự gì cho bé cả. Vậy mà ở ngoài đời, anh hăng hái vô cùng. Khi trở về anh mới thấy rằng anh đang bỏ bé quá xa. Anh đang bỏ quên tuổi thơ của anh, của bé. Nhưng bây giờ anh đang yêu những gì bé dại, nhỏ nhắn đây. Anh đang muốn làm một cái gì cho bé. Thương con nít, không phải chỉ ngồi ngắm nó hay viết văn, làm thơ ca tụng nó – mà phải làm gì cho nó. Ít ra, trong đời sống anh, cũng đang có bé.

2

Bé Thơ sáng đôi mắt lên khi thấy anh Danh đón ở trước trường. Anh cũng đi bằng chiếc xe đạp ấy. Và đã đúng như lời hứa là anh không trốn đi chơi. Bé thích được anh chở leo lên dốc. Khi anh khom lưng đạp xe, bé vịn chắc yên trước, hỏi:
- Anh Danh mệt không?
- Không mệt.
Bé không tin, hỏi nữa:
- Không mệt sao anh thở?
Anh cười khì:
- Người sống thì phải thở chứ sao!
Anh trả lời gàn như ông cụ. Nhưng tự nhiên câu nói của anh làm bé thấy thương anh chi lạ! Lúc trước, anh đi đâu lâu quá không về, đôi khi bé thắc mắc không biết anh có đang thở, đang ăn, đang ngủ, đang nói… giống như bé và mọi người trong nhà đây không. Bé có nhiều câu hỏi tự đặt ra và tự trả lời. Bé không nhờ ai giải thích. Ai cũng có việc riêng của người ấy. Chỉ có anh Danh là bé muốn để dồn nhiều thắc mắc về hỏi anh. Không phải vì anh là người hay giải đáp. Mà vì bé biết anh là Ông Già Nô-en đến bỏ quà bên cạnh bé trong khi bé ngủ say – Anh chỉ làm như thế vào một đêm trong mùa đông của mỗi năm thôi. Mỗi lần nhận quà bé đều tin rằng đó là quà của Ông Già Nô-en cho bé. Bé cám ơn “ông ấy” mà không cám ơn anh. Nhưng anh vui lắm chứ anh có giận đâu! Đến nay anh vẫn chưa biết là mẹ đã tiết lộ bí mật cho bé rồi. Nhưng bé sẽ im lặng, để anh lại tiếp tục làm Ông Già Nô-en tặng quà cho bé. Anh đã về đúng lúc mùa đông gần hết. Gió lạnh nhắc bé rằng bé sắp được có quà. Nếu anh không về nhằm lúc này thì sao nhỉ? Chắc là mẹ sẽ nói với bé rằng năm nay Ông Già Nô-en bận việc không đến, hoặc “ông ấy” hết tiền rồi… Ý nghĩ đó làm bé bật cười, và hỏi anh không do dự:
- Anh Danh! Anh còn tiền không?
- Hết rồi. Bé muốn ăn kẹo hở?
- Dạ đâu có!
Xe đạp đã đến ngang lò gốm. Anh Danh ngừng xe lại, đỡ bé xuống. Anh bảo:
- Tới đây, xem người ta nắn đồ sành. Rồi có muốn ăn kẹo, anh cho.
Tiếng của anh lùng bùng trong gió. Bé ôm chặt chiếc cặp vào người. Anh còn nói gì nhiều chữ nghe không rõ. Anh và bé ngồi xuống trên sân phơi đồ sành. Anh cũng đang nói nữa. Bé thích thú khi thấy anh vừa nói vừa móc trong túi áo lấy ra hai chiếc kẹo:
- Bé muốn có một món đồ chơi bằng sành không? Anh sẽ làm cho. Một trái bưởi nhé! Một trái khế nhé! Hay là một con chuột bạch? Hay một ông tiên bồng đứa bé giống như hình vẽ trên cái đĩa này?
Bé lắc đầu:
- Không, bé không thích mấy thứ đó. Để nghĩ coi… Anh Danh làm cho bé… nhiều thật là nhiều thiên thần đi!

Bé không biết rằng anh đang trố đôi mắt nhìn bé, ngẩn ngơ. Thật là nhiều THIÊN THẦN cho bé! Chết anh rồi! Anh nào có biết nắn đất sét thành thiên thần. Anh cũng chưa bao giờ nhìn kỹ hình hay tượng của thiên thần. Anh chỉ còn nhớ những khi ngắm nhìn hang đá bày bán ngoài phố, anh thấy những vị thiên thần dường như là trẻ nhỏ, có cánh trên vai và gương mặt thì dịu hiền ghê lắm.

- Ừ, anh sẽ làm. Nhưng xấu thì ráng chịu nghe!
Bé dạ. Anh lại dẫn bé ra nơi có đống đất sét. Anh nhặt lên một mẩu. Không đủ đâu. Bé đòi có nhiều thật là nhiều thiên thần. Anh phải xin nhiều đất sét đem về nhà. Anh sẽ làm cho bé nhiều tượng thiên thần, cho bé sắp dài trên bàn học. Bé sẽ có một thứ đồ chơi độc đáo mà tụi bạn bé không có: Những thiên thần bằng đất sét – a, nói như thế nghe không hay chút nào – những thiên thần bằng sành, bé hở!
Nhưng anh lại ngẩn ngơ. Làm sao để có mẫu mà nặn đây? Anh lại phải ra chợ mua một bức tượng thiên thần về bắt chước theo ư? Anh chẳng muốn thế chút nào. Anh sẽ làm bằng óc tưởng tượng của riêng anh.

Khi bé lúi húi leo lên yên sau xe đạp, anh bỗng dưng có ý nghĩ rằng bé cũng đẹp như một thiên thần. Vì rõ ràng trước mắt anh, bé xinh xắn ngoan hiền và thanh khiết vô vàn. Anh nhớ đến một dạo nào người ta đã ví tuổi thơ như thiên thần. Nhiều người đã viết, và nhiều người đã lập lại như thế. Anh không thích bắt chước họ, cũng không thích viết văn. Ca ngợi con nít là thiên thần, đối với anh không có lợi ích gì. Anh chỉ muốn nhìn bé và nắn cho bé nhiều bức tượng thiên thần, thế thôi. Anh giản dị vô cùng bé hở!

Bé biết không, anh cũng là một thứ “thiên thần” đó! Một thứ thiên thần không có cánh mà bay được. Anh không muốn nhận một thứ danh xưng nào cả. Anh chỉ muốn làm anh của bé, của một đứa trẻ thơ thanh khiết. Bỏ qua cái hiệu “thiên thần” của anh đi. Anh còn một số ngày để ở lại với bé trong mùa đông này. Mai mốt trên bàn học của bé sẽ có nhiều thật nhiều thiên thần bằng sành để thành một hàng. Anh chưa dám hứa với bé là sẽ có bao nhiêu, vì anh sẽ bắt đầu làm, ngay chiều nay, suốt ngày, cho đến khi anh tiếp tục đi xa nhà.

3

Mùa đông sẽ tàn lụi. Bé Thơ biết như thế. Cả những cơn gió lạnh rồi cũng sẽ không còn. Còn một thứ vui thích của bé là nhận những món quà của “Ông Già Nô-en” cũng mất cả ‎ ý nghĩa. Bởi vì lần này, chính tay anh Danh đã viết vào mảnh giấy để bên gối bé, rằng: “Anh là Ông Già Nô-en, đêm nay đến tặng cho bé Thơ món quà này. Ông Già Nô-en hết tiền, nên chỉ cho bé hai mươi thiên thần bằng sành. Cho bé ngoan mãi”. Và sáng hôm sau anh đã đi thật sớm. Đã đến ngày anh đi rồi. Tượng thiên thần thứ hai mươi chưa hoàn thành. Có một cái cánh gắn chưa kỹ vào vai. Dù thế, bé vẫn cho nó nhập bọn với những tượng kia. Bé sắp cho các thiên thần đứng chung với nhau thành một dãy dài trên bàn học. Bé ngắm những đồ chơi đó và mỉm cười một mình. Tự nhiên bé thấy nhớ anh Danh kỳ lạ. Khi đó anh đang đi ở một nơi nào. Anh không có mặt ở nhà để thấy bé vui với những thiên thần nhỏ. Bé phải đi học với chị Thi. Và những hôm chị Thi bận, bé phải đi học một mình. Bé leo về con dốc cao, đường có nhiều hoa Cúc, dừng lại một chốc ở trước lò gốm. Người ta tiếp tục làm những chén đĩa hũ bình, phơi đầy sân và chờ đem bán.

Bé muốn reo lên cho người ta biết rằng chưa có ai nghĩ ra việc làm những thiên thần bằng sành cho trẻ nhỏ. Chỉ có anh của bé mới làm được mà thôi. Người ta sẽ hỏi rằng anh của bé là thợ trong lò gốm, là họa sĩ hay nhà điêu khắc? Bé sẽ đáp rằng anh của bé chỉ là một người biết đạp xe đạp chở em đi học và biết mua kẹo cho em ăn – ngoài ra anh còn biết đi xa nhà nữa thôi. Anh đi xa để làm gì bé không biết. Chẳng có ai nói cho bé biết hết.

Chẳng có ai nói cho bé biết hết! Nhưng một hôm nhà nhận được một mảnh giấy. Bé thấy ai cũng khóc. Chỉ có anh Danh thiếu mặt nơi đây. Bé biết có việc gì đã xảy đến cho anh Danh. Không ai dám cho bé biết, để mặc cho bé tưởng tượng những hình ảnh quái gở trong đầu. Ai cũng đi thăm anh Danh mà không cho bé đi theo. Ngày nào, tuần nào mẹ cũng đem thức ăn ngon đi cho anh Danh. Bé biết rồi, anh Danh không chết.

Anh Danh không chết. Nhưng bé biết rằng sự chết chắc cũng không ghê gớm bằng. Chết là hết – người lớn vẫn hay nói một cách tự nhiên như thế. Còn anh của bé vẫn còn sống nhưng chịu nhiều đớn đau. Bé khóc òa nhìn những thiên thần vô tư đứng trên bàn học. Có một-thiên-thần-đã-gãy-cánh. Đó là thiên thần thứ hai mươi mà anh đã làm vội vàng vì đã đến ngày đi. Có một thứ vỡ nát nào trong tâm tư non dại của bé. Có một đổi thay chua xót nào trong đời sống của anh rồi!!!

Buổi chiều nay tan học bé hờ hững đi về con đường quen. Những bụi Cúc vàng vẫn nở tươi vui. Ngang lò gốm vẫn thấy khoảng sân nhộn nhịp. Nhưng bé muốn khóc quá! Không còn thấy anh Danh khom người nhặt đất sét. Và trên con dốc này không còn anh Danh gò lưng đạp xe chở bé đi học. Dù anh có về nhà – bé biết – dù anh có về nhà, anh cũng không còn đạp xe được nữa. Không bao giờ anh đạp xe được nữa! Bé thương anh, thương bé, bé khóc ngon lành trên đường về.

Anh Danh xuất hiện ở cửa nhà, chờ đợi bé. Anh dang tay muốn ôm bé vào lòng. Bé nhìn anh như nhìn một người quen, một kẻ lạ. Anh đỡ cặp trên vai bé, vuốt tóc lại cho bé, và bẹo má bé. Những cử động quá quen và trở nên nhu cầu. Anh cười. Nhưng bé khóc.

4

Bé Thơ ơi! Đừng khóc. Anh đã thấy có nước mắt trong khoảng đời thơ ấu của bé rồi. Anh đã thấy có sự khắc nghiệt trong đời sống của anh. Anh đã thấy có một thiên thần gãy cánh trong đám thiên thần để trên bàn học của bé. Bé còn quá nhỏ dại nên khi thấy những mất mát, những đau đớn, bé khóc. Rồi đây, khi lớn lên, bé sẽ thấy có những định mệnh thê lương trong đời sống chúng ta, mà người như anh, như bé cũng phải nhận lãnh. Đáng lẽ thiên thần làm bằng cao su, thiên thần sẽ không bao giờ gãy cánh. Nhưng vì anh đã làm thiên thần bằng đất sét nên thiên thần phải chịu đớn đau. Thiên thần gãy cánh thì thiên thần không bay được. Anh đã không còn gì để đạp xe chở bé đi, về con dốc – ngang qua lò gốm để ngắm những chén đĩa lọ bình.

Nhưng bé Thơ, đừng khóc nữa. Anh sẽ đến đó, nhặt thêm một mẩu đất sét. Anh sẽ gắn lại cánh cho thiên thần. Anh không còn phải vội vàng bỏ bé mà đi như một sáng sớm mùa đông kia nữa. Anh sẽ chắp lại cánh cho thiên thần như nhóm một chút tin yêu trong tuổi thơ của bé, trong đời sống của anh. Đâu có ai cấm chúng ta thắp lại một ngọn đèn, trồng lại một bông hoa, bé nhỉ!

Rồi một sớm mai khi thức dậy bé sẽ thấy trên bàn học có đầy đủ hai mươi thiên thần quỳ ngay ngắn bên nhau. Bé sẽ cười thật sung sướng. Anh sẽ cười thật đau khổ. Rồi sẽ có lúc anh kể cho bé nghe về cuộc đời anh, về những ngày gian nan của anh. Bé sẽ cảm thấy sự sung sướng và sự đau khổ là một. Thiên thần cũng có lúc biết khóc vậy bé nhỉ!

Anh sẽ còn làm cho bé nhiều thiên thần nữa, những thiên thần bằng đất sét – bằng sành. Dù anh không còn đạp xe được nữa, anh cũng sẽ đến đó – lò gốm, giữa con dốc thân yêu của anh Danh, và của bé Thơ.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 215, số Giáng Sinh, ngày 15-12-1973

tuoihoa.hatnang.com

alt

1

Nhanh như chớp, Vic Morrow gạt mạnh chân của tên lính Đức. Tên này ngã xuống. Vic Morrow cướp lấy khẩu súng và đã chuyển bại thành thắng…
Lũ trẻ con vỗ tay reo hò. Tiếng nhạc chấm dứt phim “Combat” dồn dập. Màn ảnh bỗng nhiên nổi những hạt nhỏ li ti. Ông Hai thở ra:
- Rồi! Lại “tóe sao” nữa. Ba tắt nghen!
Mấy đứa trẻ nhao nhao. Hòa nói lớn:
- Hết phim rồi, để ba tắt máy. Tí nữa mười hai giờ lại mở ra mà! Tha hồ xem Ông Già Nô-en kể chuyện.
Lũ trẻ vâng lời răm rắp. Ông Hai vặn trái nút máy truyền hình. Khung ảnh trở lại xám ngoẹt, vô vị. Bà Hai bảo mấy đứa con:
- Thôi, tụi con đi ngủ đi! Hết phim rồi! Lạnh quá mà ngồi đây chi?
Bọn trẻ không chịu vào buồng, vì chúng nó còn muốn chống mắt chờ đến mười hai giờ khuya để được xem Ông Già Nô-en nói chuyện trong máy truyền hình. Bà Hai đành “chịu thua”.
- Nhưng muốn ngồi đây thì phải mặc thêm áo lạnh. Tụi con có nghe gió thổi nhiều ở ngoài không? Đợi từ đây đến khuya có nước chết cóng.
Bà mang thêm áo lạnh ra cho lũ nhỏ. Tất cả ba đứa –nằm, ngồi trên chiếc ghế bố lớn kê trước mặt chiếc máy truyền hình. Đêm nay chúng không chịu ngủ trong buồng mà đòi ngồi ở phòng ngoài để chờ đến nửa khuya. Nhưng trẻ con không làm đúng ý muốn, nên chỉ mười phút sau chúng đã ngủ quên trên ghế bố.

Chỉ còn lại ông bà Hai với Hòa. Hòa ngồi viết nơi chiếc bàn nhỏ kê gần cửa sổ đóng kín. Ông bà Hai ngồi ở bộ sa-lông đan bằng mây. Một thoáng yên lặng khiến Hòa nghe rõ tiếng gió rít từ những đồi thông bên ngoài. Hòa đưa mắt lén nhìn ba má. Tự nhiên Hòa thấy gương mặt của ba trầm lặng hơn bao giờ. Còn đôi mắt của má sao lại trĩu xuống buồn tênh. Ba má không nói một lời nào cho phá tan cái không khí u tịch này. Hòa toan mở lời, nhưng tiếng lách tách của thanh củi trong lò sưởi đã làm bà Hai quay lại. Nhận thấy đã gần hết củi, bà Hai đứng dậy mang những thanh củi còn lại để đun thêm vào lò. Ánh lửa bùng lên làm hiện rõ những nếp nhăn trên mặt bà Hai. Tự nhiên Hòa nghe lòng xúc động lạ thường. Hòa nhìn má, rồi nhìn ba. Sống với cha mẹ, gặp cha mẹ hàng ngày mà Hòa tưởng chừng mới gặp lại hai người để kịp nhận thấy rằng họ đã già rồi. Cuộc sống ở đây bình lặng quá đã khiến Hòa lầm tưởng rằng thời gian không có ảnh hưởng gì đến con người. Hòa có hay đâu năm này qua tháng nọ ông Hai đạp xe đi xuống con đường dốc đầy đất đỏ tới sở làm thì mái tóc đã đổ đầy muối tiêu; và năm này qua tháng nọ bà Hai cặm cụi trong bếp núc, trong sân vườn nhà, sau rẫy khoai lang, thì bàn tay đã cằn cỗi và gương mặt đã nhăn nheo thêm. Bù lại, Hòa đã lớn lên đây, và các em cũng đã lớn lên. Thỉnh thoảng có thư của bác Cả gửi lên, trong thư bác có khuyên ông bà Hai nên dọn xuống Sài Gòn ở để tiện việc buôn bán làm ăn và để cho các con được đi học ở các ngôi trường lớn. Nhưng ông bà vẫn chưa quyết định dọn đi.Và như thế, gia đình Hòa vẫn sống ở đây, trên sườn đồi vắng vẻ, cách xa những ngôi nhà khác. Ba má Hòa trồng khoai ở sau nhà, và vun xới nào rau cải, nào hoa, nào cây ăn trái. Cuộc sống này đã quá quen thuộc, khiến không ai cảm thấy buồn hay sợ. Nhưng có nhiều lúc, như bây giờ đây, Hòa thấy ba má ngồi suy nghĩ trầm ngâm. Má có lúc ngồi nhìn ra cửa kính đăm đăm, trông xuống chân đồi như ngóng đợi một ai. Nhưng Hòa nghĩ mãi, không biết có ai để cho má đợi chờ. Nhiều lần Hòa xem trong hộp ảnh của má, đầy đủ hình ảnh của họ hàng. Từ ông bà nội, ông bà ngoại, các cô các chú, các cậu các dì. Nhưng ông bà nội, ông bà ngoại đã mất. Bác Cả ở dưới Sài gòn, các cô các chú đã có gia đình nhưng vẫn thường gửi quà về cho chị em Hòa. Không có ai phai lạt tình cảm với gia đình Hòa cả. Còn các cậu các dì, không bao giờ Hòa được nghe má kể rõ ràng về họ. Má chỉ bảo rằng khi xưa thời buổi loạn lạc, họ hàng xa cách nhau là thường. Hay chính vì vậy mà má vẫn thường đăm chiêu nhìn ra cửa ngóng trông? Hòa thường hay đặt giả thuyết là các cậu các dì đã chết, chứ nếu không thì họ đã tìm về đây – căn nhà của ông bà ngoại mà bao năm rồi vẫn không hề thay đổi.

Ông Hai bỗng đứng dậy, nhìn một lượt năm đứa nhỏ, bảo vợ:
- Má con Hòa đem tụi nhỏ vào buồng đi, để ngủ ở ngoài nầy lạnh lắm.
Bà Hai cũng đứng dậy, nhưng bà nhìn lại lò sưởi:
- Chà, củi nầy khô, cháy mau quá, hết cả rồi. Để tôi ra sân đem củi thêm vào đã.
Hòa ngưng viết, nói:
- Má để con ra lấy cho. Trời không lạnh lắm đâu! Với lại… để con ra xem trời có nhiều sao không…
Bà Hai nhìn chồng, cười:
- Nó lại muốn mơ mộng cả ngoài trời lạnh nữa.
Trong khi ông bà Hai bồng mấy đứa nhỏ vào buồng ngủ, Hòa mở cánh cửa lớn, lách mình ra sân. Gió lạnh hắt vào người Hòa. Hòa đến bên đống củi, nhặt vài thanh củi ôm thành một ôm. Hòa ngước nhìn trời. Sao thật nhiều, sáng rực lạ lùng. Hòa đảo mắt nhìn xuống chân đồi. Qua những hàng thông chằng chịt, con đường như khép lại. Ngoài cửa rào, Hòa bỗng thấy thấp thoáng một bóng đen.

2

Bà Hai đã lo xong chỗ ngủ cho bọn trẻ. Bà trở ra trong khi ông Hai đang mở lại máy truyền hình. Tiếng cửa kẽo kẹt cùng tiếng gió rít làm cả hai người cùng nhìn ra. Hòa đi vào, tay ôm bó củi, nhưng theo sau là một gã đàn ông. Bà Hai kêu rú lên khi nhận thấy cây súng dài đen ngòm trong tay hắn. Ông Hai đứng bật dậy. Gương mặt Hòa tái xanh đầy vẻ kinh hoàng. Đúng lúc đó những hạt trắng hiện lên trên màn ảnh nhỏ, lờ mờ khuôn mặt của Ông già Nô-en. Gã lạ mặt cất giọng nghe dữ tợn:
- Dẹp cái thứ đó đi!
Ông Hai bước lùi lại, tắt máy. Gã đàn ông lại quát:
- Hai người này, ngồi xây mặt vào tường, không được cựa quậy.
Thừa biết sự nguy hiểm có thể xảy ra, ông bà Hai làm theo lời của tên lạ mặt. Sau đó, gã chĩa súng vào Hòa, hỏi:
- Trong nhà còn ai không?
Hòa lắc đầu:
- Chỉ có mấy đứa em tôi ngủ ở trong buồng. Không có ai nữa hết.
Kẻ lạ mặt ngoái đầu nhìn vào buồng. Gã tỏ vẻ yên tâm, ra lệnh:
- Con nhỏ này ngồi xuống ghế, học bài đi! Khôn hồn thì im, không tao bắn chết.
Hòa ngồi xuống, nhưng liếc nhìn lò sưởi, và kêu lên:
- Ông cho tôi đun thêm củi, chứ hết củi rồi, lạnh lắm!
Gã nọ ngăn lại:
- Để đó cho tao. Mày ngồi yên.
Gã quơ mấy cây củi, bỏ vào lò. Ánh lửa hực lên, chiếu cả vào gương mặt gã, đỏ rực. Hòa thấy gã đứng dáng lom khom. Cây súng vẫn thủ trên tay gã, làm tăng thêm vẻ dữ tợn. Hòa nghĩ nếu gã vất cây súng đi, thì gã cũng chỉ là một con người hiền hòa như ba, như má. Nhưng Hòa không hiểu gã vào nhà này làm gì. Gã là một tên cướp, một kẻ vượt ngục, hay…??? Hòa không dám nghĩ đến những điều không may. Nếu lỡ chăng gã lạ mặt này là một kẻ đang bị tầm nã, thì không sớm thì muộn ngôi nhà này sẽ trở thành một pháo đài. Hòa nghĩ đến một lúc nào đó súng sẽ nổ thật dòn từ dưới đường cái lên dần đến sườn đồi, tràn ngập sân nhà, sau rẫy khoai. Và ngôi nhà nầy có còn không? Hòa thốt, giọng lo sợ:
- Ông … ông là ai?
Gã đàn ông nhìn Hòa, đôi mắt không có một chút thiện cảm. Gã lặng thinh, ra dấu cho Hòa ngồi yên trên ghế. Rồi gã đứng cạnh lò sưởi, trông chừng cả Hòa lẫn ông bà Hai. Hình như gã lạnh lắm – Hòa chắc như vậy, vì trên người gã chỉ có một bộ đồ đen, mà da gã thì tái mét lại. Gương mặt gã xanh xao gầy ốm như người bệnh, còn đôi bàn tay xương xẩu thì đang nắm chặt cây súng. Trông gã không có vẻ gì là một tên cướp như trong phim ảnh cả.

Năm phút yên lặng trôi qua. Ông bà Hai vẫn ngồi trên ghế mây, xây mặt vào tường. Ông Hai đã hết lo ngại, vì thấy kẻ lạ mặt không giở trò gì hết, nhưng bây giờ ông thắc mắc không hiểu gã vào nhà ông để làm gì. Còn bà Hai thì run rẩy, nhưng không phải vì lạnh. Bà vẫn nghe rõ ràng tiếng củi reo lách tách, nhưng bà không biết sau lưng bà, con gái của bà đang ra sao. Còn năm đứa nhỏ trong buồng nữa, nếu có việc gì xảy ra, ai lo cho chúng nó? Tiếng chuông đồng hồ báo hiệu chỉ còn nửa giờ nữa là đến mười hai giờ khuya. Nỗi xúc động như đang bị người lạ đến phá rầy cái hạnh phúc nhỏ bé ở nơi hẻo lánh này làm nước mắt bà Hai ứa ra. Hơn lúc nào hết, những lời khuyên trong thư bác Cả hiện đến, thúc giục. Bà Hai nhắm mắt, len lén thở dài…

Đằng kia, gã lạ mặt đang tò mò giở mấy trang giấy của Hòa đang viết nửa chừng. Đôi mắt hắn chợt như dịu lại. Đôi môi thâm ngắt mở ra:
- Làm “văn sĩ” nữa cơ à?
Hòa không trả lời. Hắn lại cầm tập giấy lên, lẩm nhẩm đọc. Hòa len lén nhìn gã. Ánh lửa từ lò sưởi chập chờn trên gương mặt khô khan. Hòa thấy hình như gã có vẻ bồn chồn hơn ban nãy. Còn cây súng trên tay gã! Hơi thép lạnh kề bên đe dọa làm Hòa rùng mình.

3

- Hòa ơi! Hồi chiều má dặn con chế đầy bình thủy để sẵn, con có làm chưa?
Gã lạ mặt quay lại nhìn bà Hai. Hòa đáp:
- Dạ có. Con chế đầy rồi má.
Gã nói:
- Dẹp đi! Không có nước non gì hết.
Bà Hai năn nỉ:
- Ông làm ơn cho con tôi đi pha cà phê cho ba nó. Đêm nào ổng cũng uống cà phê. Ông làm ơn….
Nghe đến “cà phê”, đôi lông mày của gã cau lại. Hòa thấy gã kín đáo nuốt nước bọt. Hòa nhìn gã, dịu dàng hỏi:
- Ông ơi! Hình như… ông đói lắm?
Gã giật mình, rồi bỗng gã thốt lên:
- Sao… cô bé biết?
- Tôi nhìn ông, tôi biết. Ông có thích uống một tí cà phê cho đỡ đói không?
Gã lắc đầu, gằn một tiếng:
- Không!
Hòa đưa tay chỉ về phía bếp:
- Tôi không làm gì khác đâu! Tôi xuống bếp pha cà phê, rồi bưng lên ngay. Đứng ở đây ông có thể nhìn xuống bếp canh chừng tôi.
Gã lại nuốt nước bọt. Hòa nhẹ nhàng đứng dậy, vừa dò xem phản ứng của gã. Gã gật đầu. Hòa đi xuống bếp. Đứng ở cạnh bàn, gã trông thấy Hòa nhắc bình thủy, lúi húi pha cà phê.

Hai phút trôi qua. Hòa bưng một cái khay với hai tách cà phê đi lên. Gã nhắm mắt, hít lấy hương thơm đậm đà đang tỏa ra từ trên tay Hòa. Hòa đặt một tách cà phê xuống trước mặt ông Hai, rồi tiến về phía gã nọ. Hắn sáng rực đôi mắt, chờ đợi. Nhưng chợt Hòa ngừng chân, và gã cũng giật mình, vì nghe có tiếng chó sủa vang dưới đường cái. Gã hé cửa nhìn ra. Phía dưới kia hình như có ánh đèn pin lập lòe. Rồi mơ hồ, gã nghe có tiếng chân bước trên đá, tiến dần lên đồi. Tiếng chân càng lúc càng rõ hơn. Mặt gã rắn lại. Gã hất hàm hỏi Hòa:
- Cái gì vậy?
Hòa đáp, giọng run lên:
- Có lẽ… đó là tiếng chân của mấy anh nghĩa quân đi tuần. Ông!... Trời ơi!
Hòa ôm mặt. Cảnh ngôi nhà này biến thành pháo đài cho một tay súng tung hoành, sân nhà thành bãi chiến, vẽ ra trong trí óc ngây thơ. Tách cà phê còn nghi ngút khói thơm, nhưng không còn kích động đối với gã lạ mặt. Gã lầm lì hỏi:
- Đàng sau nhà có còn ngõ đi không?
- Dạ… chỉ có rẫy khoai. Nếu ông muốn đi, ông phải leo lên dốc. Qua khỏi cái “dông” ấy ông phải đi cả buổi nữa mới ra đến Cam Ly. Nhưng… ông không chịu nổi đâu, lạnh lắm. Mà ông lại đang đói nữa.
- Kệ tao! Để tao đi ngõ sau.
Gã toan đẩy cánh cửa . Nhưng đàng sau nhà thấp thoáng ánh đèn pin. Gã lắc đầu, run rẩy. Gã đẩy Hòa nép gần bàn viết, ra lệnh:
- Đứng yên! Cả hai ông bà kia nữa, không ai được la lên.
Đôi tay xương xẩu nâng cây súng, lên đạn. Hòa kinh hãi:
- Ông ! Trời ơi! Ông đừng chống lại họ. Họ đông lắm!
Gã banh áo ra, để lộ cho Hòa thấy những băng đạn dài quấn trong người. Hòa muốn quỵ xuống vì hãi hùng. Bà Hai nói như sắp đứt hơi:
- Lũ con tôi…chắc chết mất… Ông ơi!...
Ông Hai đờ người trên ghế. Có lẽ đây là giây phút cuối cùng ông còn ngồi ở đây để thấy ngôi nhà yêu dấu. Ông nhắm mắt lại, biểu lộ một sự bất lực trước tên lạ mặt.

Có tiếng lá xao động ngoài vườn. Gã sửa soạn vị trí để kê cây súng. Gã quay nhìn Hòa, dò xét thái độ của Hòa. Trong phút giây sợ hãi, Hòa nhìn xuống tách cà phê dành cho gã còn nghi ngút khói. Và, nhanh như chớp, Hòa bưng tách cà phê lên, tạt mạnh vào mắt gã. Đôi bàn tay xương xẩu buông rơi cây súng, ôm mặt. Tiếng rú đau đớn nghe rụng rời.

4

Mọi việc xảy ra như trong một khúc phim nghẹt thở. Cô bé Hòa hành động lanh lẹ như một anh hùng trong phim “Chiến trận”. Nhưng lũ trẻ nhỏ còn ngủ ngon nên không có tiếng reo hò. Và Hòa không đoạt khẩu súng, không trói tay gã lạ mặt. Mà cô bé bật lên khóc, vừa khóc vừa lấy khăn lau mặt cho hắn, và cởi chiếc áo ấm của mình choàng lên người hắn.
- Cậu Quy! Có phải cậu Quy đây không? Má ơi, má quay lại đi! Má nhìn xem có phải cậu Quy, em của má đây không? Ba ơi! Ba có nhận ra người này không? Cậu Quy, cậu không biết cháu, nhưng cháu biết cậu. Cháu nhận ra cậu khi cậu đứng gần lò sưởi, dáng cậu khom khom. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang khom lưng ôm củi trước nhà ông bà ngoại không? Cháu nhận ra cậu ghì tay trên cây súng. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang ôm một cây súng giả không? Và cậu có một bức ảnh đang đọc sách nữa, rõ ràng là hình ảnh của cậu đây, giống khi mà cậu đọc tập truyện của cháu. Cậu Quy, hình ảnh của cậu và các cậu, các dì khác còn đầy một chiếc hộp mà má cháu gìn giữ. Cậu có nhận ra ngôi nhà này không? Ngôi nhà này ông bà ngoại để lại cho ba má cháu nè! Hay cậu cố tình quên? Cậu có nhận ra má cháu không? Tại sao khi vào nhà, cậu không vui mừng vì gặp chị? Sao cậu mang cả súng vào đây? Mái nhà này, ba má cháu đã cố giữ gìn, đã cố lưu lại ở đây để chờ ngày các cậu, các dì trở về. Cậu nhìn ba má cháu đi! Hai người chắc trông già hơn ngày xưa rất nhiều phải không cậu? Ngày xưa chưa có cháu. Và các cậu, các dì đã đi đâu, đã làm gì, cháu không được rõ. Cháu là Hòa, còn ba đứa em cháu nữa, chúng đang ngủ trong buồng. Tất cả là cháu của cậu. Chúng cháu vẫn hằng mong có ngày gặp lại các cậu các dì. Cháu mơ làm văn sĩ, nên cháu hay xin má cho xem hộp ảnh, để vẽ vời cho các cậu các dì trong những truyện của cháu. Bây giờ cháu đã gặp cậu rồi! Sao cậu không tỏ vẻ vui mừng hay nói một câu thân tình khi trở về ngôi nhà này hở cậu? Cháu chờ đợi cậu nói, nhưng cơ hồ cậu không nhớ gì cả. Cậu không nhận ra ai cả sao? Cháu đã pha cà phê cho cậu uống, vì cháu biết cậu đói. Nhưng cậu lại muốn biến ngôi nhà này thành chiến trường, muốn phá hủy rẫy khoai, vườn rau, muốn giết những người ngoài kia. Cậu biết không, họ là những người bạn của cậu đó. Chú Văn, chú Hoài, chú Bảy cụt một ngón tay, cậu nhớ họ không? Họ đã giúp đỡ cho ba má cháu rất nhiều, đã góp bàn tay sửa sang ngôi nhà này, vun xới mảnh đất này. Cháu không muốn họ chết. Cháu cũng không muốn cậu chết. Cậu cho cháu xin lỗi cậu thật là nhiều…. Cháu hành động xuẩn ngốc, nhưng không thể không làm. Cháu chờ đợi cậu nói ngay từ phút cháu mơ hồ nhận ra cậu. Và cháu cũng chưa kịp nói với cậu… Cậu Quy, cháu xin phép cậu tháo những băng đạn này ra nhé! Không có hận thù khi bước vào căn nhà này. Cậu đừng chối bỏ tình người trong cậu. Cậu nhìn ba cháu, má cháu đi, cậu ơi! Cậu Quy ơi!..
Người lạ mặt – đúng hơn, cậu Quy của cô bé Hòa – buông hai tay, cố hấp háy đôi mắt. Đồng thời với tiếng xô ghế đứng dậy của ông Hai, đồng thời với tiếng kêu vừa xót xa vừa vui mừng của bà Hai, người ấy ôm siết đứa cháu trong đôi tay xương xẩu. Từ đôi mi mắt còn bỏng rát, hai giọt nước mắt bỗng bất ngờ thoát ra, lăn xuống quanh đôi gò má cao…

Có tiếng gõ cửa dồn dập, rồi cánh cửa bật mở tung mang theo tiếng gió rít. Rất đông người hiện ra, in hình trên khung trời đầy sao sáng. Và tiếng khóc của cô bé Hòa dậy lên làm mềm mọi trái tim.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 191, ra ngày 15-12-1972

tuoihoa.hatnang.com

 

 

Ông Già Nô-en đã không đến, và em biết ông sẽ không bao giờ đến.

Và em đã không buồn mở những gói quà. Em biết người đặt những gói quà đó, ngay dưới chân cây thông rực sáng ánh đèn, là Má chứ không ai khác. Là Má chứ không phải Ông Già Nô-en chi hết. Em không muốn ăn cơm. Em nằm rã rượi trong chăn, cảm thấy mình lạc lõng, cô đơn quá! Má đã đi làm từ sáng sớm. Đêm qua Má căn dặn em khi nhắc em đi ngủ sớm, rằng sáng em thức dậy sẽ có quà của Ông Già Nô-en tặng. Quả là có quà thật, nhưng Má không còn có thể đánh lừa được em.

Là bởi vì cái hình ảnh Ông Già Nô-en quen thuộc em thường thấy trong những tấm thiệp Má để trên đầu lò sưởi, hoặc xem trong các cuốn phim mùa Giáng Sinh, nghe những câu chuyện Má kể, hay chính em đã sà vào lòng những người hóa trang giống như ông cho trẻ con chụp ảnh trong các khu “mall”… đều đã mất hết. Không có ai là Ông Già Nô-en cả. Hay nói đúng ra là không có Ông Già Nô-en trên đời này.

Ai cũng biết rằng Ông Già Nô-en không có thật, từ người bình dân cho đến các vị giáo sư. Vậy thì tại sao mọi người cứ tiếp tục làm cho người khác tin? Và cứ mỗi năm lại làm cho trẻ con tin một lần. Ôi, em thấy chán ngán quá! Em chợt thấy mình giận Ông Già Nô-en lạ lùng. Em biết là mình giận vô cớ, bởi vì ông ấy có thật đâu! Em tự hỏi hay là em giận Má. Má là người bảo em viết thư cho Ông Già Nô-en. Vậy Má cũng “tiếp tay” với mọi người để lừa dối em chăng? Không, không phải thế! Em thương Má lắm. Má làm cái gì thì cũng chỉ để em vui, vì Má thương em, mà thôi.

Khi cái bụng của em bắt đầu cồn cào thì bỗng dưng đó là lúc em tỉnh táo nhất. Hình như có ai đó đã nói rằng con người sẽ sáng suốt nhất lúc họ đói bụng. Lạ chưa! Em choàng dậy. Em nghĩ ra rồi! Chính là cái vụ cô bạn Aisha Harris nào đó, mà trong một chương trình trên ti-vi có nói đến. Cô bạn ấy viết rằng Ông Già Nô-en nên là một con chim penguin. Vâng, là một con chim cánh cụt. Trời ạ! Em hết hồn khi thấy tràn ngập những hình ảnh chim penguin mặc áo đỏ, đội mũ đỏ, mang ủng, vác túi đi tặng quà cho con nít. Eo ơi! Bạn ấy bằng tuổi khoảng em thôi, nhưng có sáng kiến đến lạ kỳ. Em nể bạn ấy lắm! Nhưng rồi đến lúc mọi sự ngạc nhiên và hào hứng lắng xuống, em thấy mình… ghét bạn ấy thế nào! Mình có nên thay đổi một hình ảnh đã có từ lâu hay không? Mình có nên đòi hỏi một thần tượng nào đó phải giống như ý mình muốn hay không?

Aisha có nét hao hao giống em, mấy bạn trong lớp em nói thế đó. Và giống nhất là màu da. Trong hình, bạn ấy cười thật tươi. Em soi gương thấy mình cũng cười tươi như vậy. Nhưng sao tự nhiên thấy buồn quá! Lại cũng cái đài truyền hình CNN, cách nay khoảng một năm, họ đã giới thiệu cái gì mà… thăm dò các bạn nhỏ trong các lớp học. Khi được hỏi “ai đẹp hơn, ai tốt hơn”, đa số các bạn đều chỉ vào hình của người da trắng, dù bạn là da màu hay da trắng. Em có kể cho Má nghe, thì Má chỉ cười buồn.

Má về. Em không muốn Má thấy em lười biếng và buồn rầu, nên em chạy ù vào nhà tắm. Khi em ra chào Má, em đã trở lại thành con bé ngoan của Má.

**

Em thường không giấu được chuyện gì quá năm phút với Má, nên em đã thố lộ hết với Má rồi. Má ôm em vào lòng. Em ngước nhìn Má. Má đẹp lắm, da Má trắng muốt, mắt Má xanh thẳm, tóc Má có sắc óng ánh vàng. Má giống như một nữ diễn viên người Mỹ, một bà tiên trong truyện cổ tích vậy. Má nói:

“Má xin lỗi con.”

“Sao Má phải xin lỗi con hở Má?”

“Là bởi vì Má đã không nói chuyện nhiều với con. Má bận đi làm, về tới nhà thì mệt mỏi. Má không hiểu con nghĩ gì. Nên… Má phải xin lỗi con chứ!”

“Má kể chuyện cho con nghe đi! Con không muốn Má xin lỗi con.”

“Phải, để Má kể chuyện “đời xưa” cho con nghe nhé!”

“Giống như chuyện cổ tích hở Má?”

“Ừ, nhưng không bắt đầu bằng “Once upon a time” đâu con, mà là bắt đầu từ một năm cách nay vài chục năm. À, nói sao cho con hiểu nhỉ? Có một gia đình, người chủ của Má, nơi Má giúp việc nhà và giữ con cho họ, nhận Má làm con nuôi. Họ làm giấy tờ đàng hoàng. Thế là Má có một gia đình, một mái nhà. Rồi thì… Má vẫn cứ giúp việc nhà, vẫn cứ giữ con cho họ. Đến một hôm, Má được lên máy bay. Cả nhà người cha mẹ nuôi và Má cùng lên máy bay. Má được qua Mỹ. Qua tới nơi, Má lại vẫn tiếp tục giúp việc nhà, và giữ con cho họ. Má không được đi học, vì sẽ không ai làm giúp cho Má việc nhà, làm giúp chuyện giữ trẻ cho Má. Người ta nhìn Má cứ tưởng Má giỏi lắm, không ai ngờ Má vẫn chưa học hết tiểu học, lại còn rất kém tiếng Anh. Người ta bạc đãi Má. Má vẫn chỉ là một người ở. Khi Má ra ngoài, nói chuyện được với nhiều người, Má bỗng hiểu ra là Má đáng được hơn như vậy. Thế là…”

“Con biết rồi! Má muốn thoát!”

“Con giỏi thật!”

“Con biết chứ! Má muốn thoát, giống như mấy cô bé cậu bé trong truyện chằn tinh há!”

“Ừ, và Má đã trốn đi. Má tới Sở Xã Hội xin giúp đỡ. Người ta cho Má đi học, kiếm việc làm cho Má. Má đã thoát thật sự.”

“Má ơi, con thương Má!”

“ Má gặp Ba, Má thương Ba lắm vì Ba cũng cùng cảnh ngộ như Má, và Ba cũng cố gắng thoát khỏi cái nghèo, cái dốt như Má.”

“Con cũng thương Ba nữa!”

Hai mẹ con cùng im lặng. Eo ơi! Em nhớ Ba quá chừng! Không có năm nào Ba được về nhà vào dịp cuối năm. Ba đang ở Afghanistan. Má nói sớm nhất cuối năm tới Ba mới được về, mà lần này có thể sẽ về hẳn. Em mong lắm, em nôn nao lắm. Ồ, mà khi nào có Ba ở nhà trong dịp Giáng Sinh, chắc là em sẽ nói Ba mặc đồ Ông Già Nô-en, làm Ông Già Nô-en thay cho Má. Má lâu nay vẫn chỉ là “Ông Già Nô-en giấu mặt”, làm em cứ lầm tưởng là có Ông Già Nô-en ở xứ tuyết phủ trên miền gần Bắc cực mang quà đến cho em chứ!

 

**

Em nhờ Má chỉ cách cho em vào trang của Aisha Harris, và em viết cho bạn ấy.

“Aisha thân mến,

Bạn có biết không, ban đầu thì mình rất khổ tâm khi đọc những ý tưởng của bạn. Mình đương nhiên là cũng giống như bạn, rất yêu Ông Già Nô-en bấy lâu nay. Mình giả dụ nếu da của mình cũng trắng như ông, chắc là mình chẳng bao giờ băn khoăn cả. Nhưng thú thật là mình cũng giống như bạn vậy. Ba của mình là người gốc Phi châu bạn ạ! Ba của mình học giỏi lắm! Và Má của mình cũng giỏi nữa. Bạn biết không, Má của mình một nửa là người Việt Nam và một nửa là người Mỹ. Má mình nói ở quê của Má mình, nơi miền đông, vùng cư ngụ của người dân miền Bắc di cư, mỗi độ Giáng sinh về, nơi hang đá trước các nhà thờ, người ta trang hoàng rực rỡ lắm, và các tượng Đức Mẹ, Thánh Giuse đều mặc trang phục như người Việt. Đức Mẹ mặc áo tứ thân, trùm khăn mỏ quạ, Thánh Giuse mặc áo dài khăn đống, trông thân thương lắm bạn ạ! Mấy cái tên trang phục này nói ra chắc bạn chưa hình dung được đâu, mình sẽ có dịp gửi hình cho bạn xem, bạn sẽ hiểu liền. Đâu có ai cấm mình suy tưởng theo cách của riêng mình phải không bạn? Vậy thì Ông Già Nô-en của chúng ta có ăn mặc thế nào, có là người da trắng, da vàng hay da đen, cũng chỉ là một. Ông có là thật hay là tưởng tượng thì ông cũng là một người dễ mến. Dễ mến vì ông đã đi đến mọi miền của trái đất này, phát quà cho các trẻ em, bất kể trẻ em da trắng, da vàng hay da đen. Duy có điều chúng ta không cay cú về ông, bởi vì cay cú thì tự chúng ta làm cho mình thất vọng, tự mình làm khổ chính mình. Và thí dụ là chính mình đây, mình đã có một nửa ngày nằm buồn rầu trong chăn rồi đó bạn ạ!

Mình chấm dứt đây. Ước mong sẽ thường xuyên làm “vi hữu” của bạn.”

Ái chà, em viết văn cũng “rườm rà” gớm! Má xem, và cười thật ấm áp. Khi Má và em ngồi bên nhau, nhìn tuyết rơi bên ngoài cửa sổ, em bỗng ao ước lúc này Ba hiện ra như người lính trong một đoạn phim trên ti-vi. Ngạc nhiên lắm! Người cha trở về trong một dịp đặc biệt như lễ Giáng sinh, mùa lễ cuối năm, mùa đón chờ Năm Mới, sẽ hạnh phúc biết bao! Như Má thuở nhỏ đã từng ước mong gặp người cha chưa bao giờ thấy mặt. Em may mắn và hạnh phúc hơn Má rất nhiều.

Chuông cửa vang lên. Em biết Ông Già Nô-en đã đến!

 

Mùa Giáng sinh 2013

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

http://vietbao.com/D_1-2_2-372_4-218577_5-15_6-1_17-325_14-2_15-2/

Phụ bản:

Aisha Harris

http://www.slate.com/

 

 

 

 

 

alt

Hoa Anh Thảo (Cyclamen)

1

Ngoại ngồi vá áo trên giường. Ngoại đã già nhưng không đeo kính bao giờ. Đôi mắt ngoại rất “tỏ”. Mị leo lên giường, ngồi bên cạnh ngoại. Giống như những lần Mị muốn nghe kể chuyện, Mị đều mở đầu bằng câu:
- Ngoại kể chuyện đi ngoại!
Ngoại hỏi, câu hỏi quen thuộc:
- Kể cái gì?
- Kể chuyện đời xưa.
- Chuyện gì mới được?
- Chuyện “Tấm Cám”, chuyện “Thằng bé Sọ dừa”, chuyện “Chú Cuội”, chuyện “Trầu Cau”, chuyện “Ăn khế trả vàng”, chuyện “Mài dao dạy vợ”…
- Để ngoại xem, chuyện gì cũng nhão như cháo rồi. Muốn nghe chuyện gì?
- Dạ chuyện gì ngoại kể con cũng thích hết. Ngoại là một kho chuyện đời xưa.
- Khéo nịnh lắm nghen! Chuyện nghe đi nghe lại nhàm lắm.
- Vậy … ngoại kể chuyện “Ông già Nô-en” đi!
- Hả???
Ngoại ngừng tay kim chỉ. Ngoại trố mắt nhìn Mị. Rồi ngoại lắc đầu nhè nhẹ. Mị hỏi:
- Sao, ngoại? Ngoại kể đi! Ngoại biết Ông già Nô-en mà!
- Ngoại biết chứ! Nhưng… ngoại đâu có biết kể cái gì về ổng.
Mị bật cười:
- Hi hi, ngoại không biết kể chuyện Ông già Nô-en.
Ngoại ngơ ngác:
- Ừ, ngoại không biết. Chuyện đời xưa của Việt Nam thì ngoại biết, chuyện của …tây thì ngoại thua.
- Vậy để con kể ngoại nghe.
- Ừ con kể đi!
Mị đằng hắng ra vẻ người lớn, rồi trịnh trọng kể:
- Ngày xưa, xưa lắm, có một ông già thật đẹp, tóc trắng, râu trắng, nét mặt vui vẻ hiền lành, thân hình to lớn, mặc bộ đồ màu đỏ, đội chiếc mũ cũng màu đỏ nhưng có viền màu trắng. Ông là người ở bên tây, nhưng ông yêu quý tất cả trẻ em trên thế giới, không phân biệt đen, trắng, giàu, nghèo. Mỗi năm, đến lễ Giáng Sinh là ông vác một cái túi thật lớn trên vai, leo lên chiếc xe do những con tuần lộc kéo đi trên tuyết, trong đêm lạnh, để đến nhà từng đứa trẻ. Ông vào nhà chúng bằng cách trèo vào ống khói lò sưởi. Trẻ em ngoan sẽ được ông cho quà. Trẻ em hư thì không được cho quà. Rồi… rồi….
Mị ngập ngừng, hết biết kể gì nữa. Nhưng ngoại thì có vẻ chú ý lắng nghe lắm. Mị tự nhiên thấy mình quan trọng hẳn lên. Mị kể tiếp:
- Rồi… rồi… à, ai có viết thư cho ông thì ông sẽ nhớ tên và hàng năm ông sẽ đến cho quà nữa… Ngoại ơi, ngoại thấy chuyện có hay không?
- Hay lắm!
- Ngoại có thích không?
- Ngoại thích lắm. Ngoại không có biết mấy chuyện bên tây.
- Vậy con sẽ kể chuyện cổ tích bên tây cho ngoại nghe há!
- Được.
- Con sẽ kể chuyện “Cô bé Lọ Lem”, chuyện “Bạch Tuyết và bảy chú lùn”, chuyện “Nàng công chúa ngủ trong rừng”, chuyện “Giai nhân và quái vật”,… nhiều lắm.
- Ừ.
- Nhưng bây giờ con phải đi làm chút việc của con nha ngoại!
Ngoại “ừ” rồi tiếp tục may vá.

Rời phòng ngoại, Mị chạy đến bên bàn học, giở nắp hộc bàn lên và len lén soạn lại những món quà mà Mị đã gói bằng những tờ giấy hoa thật rực rỡ. Đó là quà của “Ông già Nô-en” dành cho mọi người trong nhà. Ông già Nô-en chẳng ai khác hơn là Mị. Năm nào Mị cũng làm Ông già Nô-en cho quà từng người trong nhà. Từ bà ngoại, ba, má, các anh chị em…. Ai cũng biết Mị là “Ông già Nô-en”. Thế nhưng, như một quy ước từ lâu nay, đêm Giáng Sinh mọi người đi ngủ với lòng hồi hộp để sáng mai thức dậy đi tìm quà do “Ông già Nô-en” tặng cho mình. Và cô bé Mị rất hân hoan với cái thông lệ đó mỗi năm.

Đây này, quà cho ba: một cái bình pha trà; quà cho má: một bộ kim đan, quà cho anh Minh: một bộ dây đàn, quà cho chị Thúy: một quyển tập chép thơ, quà cho bé Tí: một con búp bê nhỏ nhắn. Rồi Mị cũng có một món quà tự tặng cho mình nữa chứ! Đó là một hộp bút chì màu thật xinh để Mị vẽ. Mị cầm đến gói quà cho ngoại: Mị đã gói những trái xí muội bằng giấy bóng kính đủ màu, Mị nghĩ ngoại thích ăn xí muội, ngoại sẽ hài lòng. Ngoại sẽ nhâm nhi xí muội sau mỗi bữa ăn, chị em Mị cũng sẽ có cơ hội được “ăn ké”.

Mùa đông ở Sài Gòn không có tuyết, cũng không lạnh. “Ông già Nô-en” không có quần áo đỏ, mũ đỏ, không có xe tuyết được kéo bằng những chú tuần lộc, không có ống khói lò sưởi để trèo. Khi mọi người trong nhà đã ngủ say, “Ông già Nô-en” rón rén đi bỏ quà ở chân giường từng người, rồi với vẻ mặt sung sướng, “Ông Già Nô-en” lại rón rén đi về chỗ của mình.

Sáng hôm sau, vẫn như thông lệ, mọi người tìm thấy quà của mình, vui vẻ tháo giấy hoa, trầm trồ khen ngợi, rồi cám ơn “Ông già Nô-en”. Mị vào phòng của ngoại, thấy món quà cũng đã được tháo giấy. Ngoại mỉm cười với Mị. Mị hỏi:
- Ngoại, ngoại có thích món quà này không?
- Ngoại thích lắm. Cám ơn “Bé Già Nô-en”.
Mị ré lên cười:
- Không chịu đâu! Sao ngoại ghẹo con là “bé già”?
- Vậy thì cám ơn “Ông già Nô-en” Mị nghen!
Hai bà cháu trêu đùa với nhau một hồi. Rồi ngoại nói:
- Mị cho ngoại xin tờ giấy để ngoại viết thư.
- Ngoại viết thư cho ai?
- Đừng có hỏi.
Mị chạy đi lấy tờ giấy, và đem đến cho ngoại cùng với một cây bút.
- Ngoại viết thư cho bà dì hả ngoại? Hay cho ông cậu?
Ngoại tần ngần:
- Đừng có hỏi mà! Rồi từ từ con cũng sẽ biết thôi!
- Vậy hả ngoại? Ngoại viết xong, đưa cho con, con đi học sẽ bỏ thư giùm cho ngoại.
- Con ngoan lắm!
Rồi ngoại kéo Mị vào lòng, ôm chặt lấy Mị và hôn lên má Mị. Mị kêu lên:
- Á! Ngoại…. hôi mùi dầu quá đi!
- Không chịu mùi dầu hả?
- Không chịu. Con sợ mùi dầu lắm ngoại ơi!
- Ngoại biết, ngoại biết... Xin lỗi, xin lỗi…Thôi không ôm nữa.
Hai bà cháu lại cười đùa. Mị trêu ngoại, lấy tay bịt chặt mũi, trợn mắt, la lớn:
- Hôi mùi dầu quá! Hôi mùi dầu quá đi!!!
Rồi Mị bỏ chạy.

2

Ngoại đưa bức thư gấp làm tư cho Mị. Mị nheo mắt cười:
- Ngoại viết xong rồi hả? Con lấy bì thư bỏ vô cho ngoại nhé! Mà ngoại gửi cho ai, để con ghi địa chỉ?
Ngoại nói:
- Con không cần bỏ bì thư đâu!
- Sao vậy ngoại?
- Vì thư này… ngoại gửi cho… Ông già Nô-en.
Mị reo lên ngạc nhiên:
- Thật vậy sao? Ngoại gửi Ông già Nô-en hở ngoại?
- Thật.
- Vậy con đưa cho Ông già Nô-en luôn, khỏi tốn bì thư, khỏi ghi địa chỉ.
- Nhưng con nói “ổng” đọc một mình “ổng” thôi, đừng cho ai khác biết.
- Dạ, ngoại yên chí đi.
Mị nhìn thấy ánh mắt của ngoại hơi là lạ. Nhưng sự thú vị làm Mị chạy ra sân. Mị ngồi trên chiếc ghế thấp bên cạnh cây hoa hồng, mở bức thư ra đọc.

“Mến gửi Ông Già Nô-en,
Ngoại biết Ông là ai, nhưng ngoại muốn viết thư này cho đúng thủ tục. Đây là bức thư ngoại viết để xin quà Ông. Ông đọc, nhưng đến năm tới Ông hãy làm nhé! Ngoại cám ơn Ông năm nay đã tặng cho ngoại gói xí muội ngon và đẹp quá chừng. Nhưng năm sau, Ông chỉ cần cho ngoại một chai dầu thôi, ngoại rất mong đó! Ngoại cám ơn Ông già Nô-en trước nhé, và hôn Ông.”

Mị bật cười. Ngoại của mình ngộ quá đi! Ngoại thích xức dầu. Má biết tính ngoại nên thường mua dầu cho ngoại. Ngoại đâu có thiếu thốn chi! Nhưng thôi, chắc ngoại cũng có lý do của ngoại. Mị cất bức thư vào hộc bàn, tự nghĩ: “Để đấy, năm tới mình sẽ làm theo ý ngoại”.

Ngoại rất thích xức dầu. Một điều thật đơn giản. Giống như những cụ già khác, lúc nào ngoại cũng ăn mặc kín đáo – ngoại bảo “để cho ấm, khỏi ốm đau”. Thế nhưng mùa nóng ngoại cũng “mặc ấm”, và cũng xức dầu. Trái lại, hầu như cả nhà không ai thích mùi dầu. Đặc biệt Mị lại rất sợ bất cứ mùi dầu nào. Mị biết về dược tính của các loại dầu. Mị hiểu các công đoạn để làm ra dầu. Nhưng nếu phải xức vào người, cho dù để hết bệnh, Mị cũng không muốn. Mị có cảm giác sợ một ai đó ngồi xuống bên cạnh mình với mùi dầu gió phảng phất. Mị cũng sợ những người ướp đậm mùi dầu thơm quá nồng. Là con gái, Mị chỉ thích mùi nước hoa thoang thoảng nhè nhẹ. Còn xức dầu ư? Từ bé, Mị đã bỏ chạy khi thấy má định xoa cho mình một chút dầu gió mỗi khi thấy Mị bị cảm. Mị sợ làm sao cái mùi nồng nồng cay cay đó. Mà đâu phải chỉ có một loại dầu. Mị thấy nào là dầu bạc hà, dầu tràm, dầu khuynh diệp, dầu Nhị Thiên Đường, dầu cù là – loại này gọi là dầu nhưng thật ra là dạng cao sệt – Riêng dầu khuynh diệp thì Mị hơi có cảm tình một chút vì nó đi đôi với tên của một vị bác sĩ, người đầu tiên đã bào chế ra loại dầu này: bác sĩ Tín.

Mị cất bức thư của ngoại trong hộc bàn của Mị, bên cạnh tập thơ và tập vẽ xinh xắn. Mị không nói cho ai trong nhà nghe về chuyện đó. “Ông già Nô-en” có nguyên tắc riêng của mình.

3

Mặc dù biết thỉnh thoảng má vẫn mua dầu cho ngoại, nhưng đến Giáng sinh năm sau Mị cũng gói ghém tặng cho ngoại một chai dầu khuynh diệp. Ái ngại vì món quà bé nhỏ quá, Mị tặng kèm thêm một hộp bánh thơm phức. Ngoại mở quà và vui vẻ ra mặt. Ngoại đưa cho má hộp bánh bảo má chia cho các con ăn, còn chai dầu, ngoại nâng niu và đem vào phòng. Mị để ý xem ngoại có dùng không. Nhưng không, ngoại chỉ xức dầu Nhị Thiên Đường của má.

Rồi, cứ như một thông lệ, mỗi năm đến lễ Giáng Sinh, những món quà “Ông già Nô-en” tặng mọi người có thay đổi, nhưng với ngoại, món quà chính vẫn là một chai dầu. Mọi người trong nhà vui vẻ với hình ảnh ngoại cười tươi khi cầm chai dầu trong tay. Anh Minh trêu:
- Khi nào ngoại xức dầu, ngoại nhớ báo cho con biết trước… để con chạy.
Chị Thúy vừa nói vừa le lưỡi:
- Ngoại đừng để dính dầu vô áo dài của con, bạn… ư… bạn con … mà ngửi thấy mùi dầu… sẽ không chơi với con.
Anh Minh hóm hỉnh:
- Bạn gì? Bạn trai hả Thúy?
Chị Thúy lườm, còn ba má nhìn nhau cười. Ba nói:
- Đừng làm “Ông già Nô-en” buồn. Ông ấy hiểu ý từng người, chiều từng người. Ba ưng ý lắm. Ba khen “Ông già Nô-en” đó nghen!
Má cũng cười:
- Vậy từ nay má giao cho Mị công việc mua dầu cho ngoại nhé!
Ngoại nói ngay:
- Không, chỉ đến Nô-en, “Ông già Nô-en” mới phải tặng dầu cho ngoại thôi!
- A vậy sao?
Cả nhà cười vui vẻ và không ai thắc mắc gì cả. Anh chị em Mị theo năm tháng lớn dần lên, ngoại và ba má già thêm. Ngoại bước vào tuổi tám mươi. Da ngoại nhăn nheo nhiều nhưng đôi mắt của ngoại vẫn cứ “tỏ”. Mị thắc mắc vì sao ngoại không phải mang kính như ba má thì ngoại bảo nhờ ngoại từ hồi còn nhỏ thích ăn mắt cá nên mắt ngoại sáng lắm. Đến già thì mắt ngoại đã “quá làng” nên cũng không cần mang kính nữa. Nhìn ngoại ngồi may, ngoại xỏ kim dễ dàng, Mị rất thích. Nhưng càng thích hơn nữa là nhìn ngoại sớt dầu từ chai này sang chai khác. Ngoại dùng một cây tăm – hay có khi là một cọng chân nhang ngắn - ngoại tựa dầu dưới của cây tăm vào bên trong miệng của cái chai không, ngoại kê miệng của chai dầu đầy sát vào đầu trên của cây tăm. Ngoại đổ từ từ cho dầu chảy trên thành cây tăm. Cứ như vậy, ngoại sớt dầu không đổ hay dính ra ngoài một chút nào. Anh Minh cười, khen ngoại là “khoa học gia”, ngoại đang làm động tác mà anh gọi là “couper”, như một nhà bào chế.

Mị lên đại học, rồi Mị ra trường, nếp cũ vẫn nguyên vẹn. Mị nhận nhiệm sở đi xa, không ở với gia đình nữa. Trước ngày ra đi, Mị đã ngồi bên ngoại để bắt ngoại kể chuyện đời xưa. Chuyện của ngoại, hầu như Mị đã thuộc nằm lòng. Ngoại nói đến đâu, Mị “vuốt đuôi” đến đó. Hai bà cháu lại trêu chọc nhau rồi cười khoan khoái. Chợt ngoại im bặt, Mị cũng im bặt. Không biết ngoại nghĩ gì, nhưng Mị thì nhìn kỹ ngoại, bỗng nhận ra rằng mình chưa một lần tìm hiểu tâm tư của ngoại. Có lẽ cuộc sống bình lặng và có nhiều nụ cười đã không làm Mị thắc mắc. Giờ đây, khi sắp xa mái nhà thân yêu, Mị mới thấy tiếc rẻ là đã không hàn huyên nhiều với ngoại. Mị đã chỉ nhìn ngoại với khái niệm một “bà ngoại” hiền hòa như bao nhiêu “bà ngoại” khác. Ký ức của Mị còn ghi rõ hình ảnh ngôi nhà của ngoại ở Nha Trang, với một vườn xoài xum xuê. Khi anh chị em Mị học tiểu học, năm nào ba má cũng đưa cả nhà về đó thăm ngoại và hưởng không khí trong lành của biển. Ông ngoại mất sớm, má có gia đình, ngoại sống với dì Lam của Mị, một cô gái xinh xắn có làn da trắng như tuyết. Ngoại cưng dì Lam lắm. Dì Lam tuổi ngoài đôi mươi, có nhiều chàng trai theo đuổi, làm quen. Nhưng dì không muốn lấy chồng sớm, dì chỉ muốn ở với ngoại. Một chuyện không may xảy đến cho dì Lam, khi dì cùng các bạn đi Đà Lạt chơi vào dịp Nô-en. Dì qua đời đột ngột. Tin báo về Nha Trang cho ngoại, báo về Sài Gòn cho ba má Mị. Mọi người tức tốc chạy lên Đà Lạt. Bác sĩ khám nghiệm cho biết dì bị “trúng gió”. “Trúng gió”, một từ ngữ không mấy chính xác, và cũng khó hiểu cho trường hợp một thiếu nữ đang tràn đầy sức sống. Cú “sốc” tàn bạo này đã làm cho ngoại bị bệnh liệt giường, và ngoại đã phải nghe lời ba má Mị, giao ngôi nhà và mảnh vườn nhờ ông cậu chăm nom, ngoại vào Sài Gòn ở với ba má và anh chị em Mị. Mấy mươi năm sống quây quần cùng con cháu, cuộc sống của ngoại trở lại bình lặng. Ngoại cũng chỉ có má là người con còn lại, nên tình thương ngoại dành cho gia đình Mị rất trọn vẹn.

Mị đi xa nhà. Mị làm việc ở Đà Lạt. Nếp cũ vẫn y nguyên. Mỗi năm, đến lễ Giáng Sinh Mị vẫn gói những gói quà xinh xinh gửi về nhà cho từng người. Và cho ngoại, vẫn một chai dầu. Ngoại vẫn viết thư cho “Ông già Nô-en” đều đặn hàng năm, vẫn một nguyện vọng: xin một chai dầu. Nét chữ của ngoại mỗi năm một yếu đi.

4

Ngày mùa đông. Trời Đà Lạt lạnh giá. Gió khô làm môi se, làm da tay muốn nứt nẻ. Mị co ro trong áo choàng, đội mũ len, quấn khăn len, đi lên khu nghĩa trang của thành phố. Mị lãnh “sứ mạng” đi thăm mộ dì Lam giùm má trong dịp cuối năm, trước khi nghỉ phép về Sài Gòn thăm nhà. Ô, năm nay Mị sẽ được ăn Nô-en ở nhà! Mị mừng lắm. Mị cầm trong tay một bó hoa nhỏ, những cánh hoa Anh Thảo đỏ sậm trông đẹp nhưng rất buồn. Ngôi mộ của dì Lam nằm trên một khu đất cao. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng tấm ảnh của dì trên tấm bia bằng đá hoa cương sáng bóng vẫn như mới chụp. Gương mặt thanh tú, làn da trắng như tuyết, ôi dì Lam của Mị, đẹp như thiên thần. Mị nghe tim thắt lại khi hình dung ra nỗi đau khổ của ngoại lúc mất người con gái yêu dấu. Khi dì Lam mất, Mị còn quá nhỏ nên chưa cảm nhận được hết những tình cảm sâu xa. Bây giờ, đi xa nhà, Mị càng thấm thía tình thương của gia đình. Mị ngồi xuống bên mộ dì Lam. Mị rút bỏ những bông hoa cũ ai đã cắm từ lần trước trong bình giờ đã khô đét lại, chuẩn bị thay bằng bó hoa mới. Do vướng víu, tay Mị đụng mạnh vào chiếc bình không, làm chiếc bình ngã xuống. Một cái chai nhỏ xíu từ trong bình rơi ra. Mị cầm lên. Đó là một chai dầu gió. Nút chai được vặn chặt nên chất lỏng bên trong hầu như không cạn. Mắt của Mị chợt nghe cay xé. Mị bàng hoàng. Chai dầu gió, chắc chắn là của ngoại – ngoại đã bỏ vào bình hoa cho dì Lam, trong ngày đưa tiễn dì lên đây.

Những món quà của “Ông già Nô-en”, vẫn như thông lệ, được Mị gói rất đẹp. Năm nay “Ông già Nô-en” được ăn lễ ở nhà. Nhưng năm nay, chai dầu không đến tay ngoại. Ngoại mất vào đúng ngày trước lễ Giáng Sinh. Ngoại ra đi rất bình yên sau một tuần bỏ ăn, với căn bệnh được gọi là “bệnh già”. “Ông già Nô-en” đã đặt lên bàn thờ của ngoại một gói quà xinh xinh: vẫn là một chai dầu.

Sau ngày an táng ngoại, một hôm má gọi cả nhà vào phòng của ngoại. Má mở chiếc hộc nhỏ trong tủ áo của ngoại. Một hộc tủ chứa rất nhiều chai dầu. Chính là những chai dầu do má mua, và cả những chai dầu do “Ông già Nô-en” tặng cho ngoại mỗi năm. Những cái chai xinh xắn, đủ các nhãn hiệu. Thời gian sau này có thêm loại dầu gió xanh của Singapore, ngoại cũng có nữa. Mùi dầu xanh Singapore, mỗi lần đi xe đò Mị đã rất mệt khi phải nín thở để bớt bị dị ứng bởi nó. Và, cũng ở trong hộc tủ này, một tấm ảnh nhỏ xíu của dì Lam, không giống tấm ảnh màu dì chụp lúc là cô thiếu nữ tuổi đôi mươi mà ngoại rửa to đóng khung để chưng trên bàn. Một tấm ảnh đen trắng. Tấm ảnh dì Lam nhỏ bé, ngây thơ. Một cô bé nhí nhảnh tóc tết hai con bím, đang cười với người đối diện. Ba đứng lặng. Má khóc sụt sùi. Anh chị em Mị thổn thức. Thương ngoại quá, ngoại ơi!..

Giáng Sinh 2008

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

tuoihoa.hatnang.com