Những bài mới nhất

alt


* Lời nói đầu:

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh cảm tác từ lời của phi hành gia Buzz Aldrin nói vào ngày 20 tháng 7 năm 2009, kỷ niệm 40 năm ngày Apollo 11 lên mặt trăng:

"…For me, the most difficult part of the mission wasn't what happened during the flight but what happened after we came home. Without a new mission to train for, I felt lost and without a purpose. My personal life was marked by deep depression and bouts of drinking. Nothing I did seemed to have meaning or motivation for me.
I left the Air Force, the space program, and was adrift. But then, as I began to recover my bearings, something wonderful happened. I met a woman, Lois Driggs Cannon, who helped me to climb out of my depression and see a role for me in space -- but this time while on Earth…"

1

Ngày 20 tháng 7 năm 1969

Bé Xíu loay hoay với một xấp giấy hoa. Cô bé đang chọn xem loại nào thích hợp để làm một chiếc lồng đèn. Đây là lần đầu tiên Bé Xíu muốn tự tay làm lồng đèn. Nhưng không phải để chơi, mà là để dự cuộc thi làm lồng đèn do trường tổ chức. Chỉ là một cuộc thi nhỏ, nhưng cô giáo lớp Ba muốn các học trò có được tính sáng tạo trong những sinh hoạt thường ngày. Thật ra thì Trung Thu không phải là điều “thường” đối với Bé Xíu cũng như với các bạn, bởi mỗi năm mới có một lần. Còn khoảng hai tháng nữa mới đến Trung Thu, nhưng Bé Xíu và các bạn cảm thấy náo nức lắm. Thôi thì… nào là giấy bóng, giấy hoa, nào là dây kẽm, nan tre, chỉ nhợ, keo hồ… Bọn con trai thì bàn tán làm lồng đèn xe tăng, tàu thủy, máy bay…. Bọn con gái thì bàn tán làm lồng đèn quả trám, đèn cái trống, đèn trái bí, đèn con bướm, con cá… Ngày nào trong giờ ra chơi cả lớp cũng nhộn nhịp tưng bừng, cô giáo cũng vui lây. Đương nhiên cô phải là người đầu tiên hướng dẫn cho các học trò cách làm từng loại lồng đèn. Nhưng phần lớn công việc ấy được làm ở nhà, nên cha mẹ hoặc anh chị của các em lại giữ phần quan trọng.

Bé Xíu không có anh chị. Cô bé là con lớn trong nhà và có một đứa em bốn tuổi. Em bốn tuổi thì chẳng giúp ích gì được cho mình rồi. Bé Xíu tự an ủi “Mình là chị Hai mà!”… và tẩn mẩn ngồi làm một mình. Ba bận đi làm, má có giúp một chút nhưng má cũng bận rộn công việc nhà nên Bé Xíu không dám quấy rầy ba má nhiều. Bé Xíu nhớ lại cách thức mà cô giáo dạy chung cho cả lớp. Bé Xíu không làm lồng đèn với nan tre mà chỉ dùng giấy hoa và dây kẽm. Bé Xíu muốn làm lồng đèn quả trám. Không hiểu sao, cô bé thích hình ảnh một cái mặt trăng hơn là những hình thể khác. Vì Trung Thu là mùa của trăng tròn mà! Cô bé tưởng tượng đến khi chiếc lồng đèn hoàn thành, treo lên cành cây trước nhà. Chà! Chắc là đẹp lắm, sẽ không thua gì mặt trăng đêm rằm Trung Thu.

Nhưng Bé Xíu đã phải ngừng tay một chút vì ba má gọi Bé Xíu đến xem ti-vi. Ba bảo:
- Xem này, Bé Xíu! Mấy phi hành gia Hoa Kỳ đã lên đến mặt trăng rồi!
Bé Xíu ngồi dán mắt vào màn hình của chiếc ti-vi nhỏ. Khi bức ảnh của ba phi hành gia được chiếu lên, Bé Xíu kéo chiếc ghế nhựa nhỏ lại gần hơn nữa. Rồi thì cảnh chiếu chiếc nguyệt xa đậu trên mặt đất cung trăng và những bước chân lướt như múa của vị phi hành gia làm cho cô bé chú ý nhiều hơn. Ba giải thích:
- Bé Xíu thấy hai người đang ở trên mặt trăng không? Họ đi trông nhẹ nhàng như vậy là vì ở trên mặt trăng mọi vật chỉ nặng bằng một phần sáu sức nặng bình thường mà thôi. Còn một người nữa thì đang bay trên phi thuyền. Cái máy tròn tròn có những cái chân cao như chân nhện đó gọi là chiếc nguyệt xa.
Ba quay sang nói với má:
- Con người thật là giỏi, phải không?
Má gật đầu:
- Con người nhỏ bé nhưng thật giỏi. Bây giờ người ta đã biết nhiều về mặt trăng rồi!
Ba thở dài:
- Nhưng những câu chuyện thần thoại về mặt trăng sẽ không còn ý nghĩa khi kể cho trẻ con nghe nữa.
- Phải đấy!
Rồi má cũng nhè nhẹ thở dài. Hình như ba má có một vẻ gì như là tiếc rẻ. Mà Bé Xíu cũng thấy có một cảm giác là lạ. Cũng là tiếc rẻ sao? Ồ, Bé Xíu mới tám tuổi. Bé Xíu bắt đầu để ý đến những chuyện kể về cung trăng không lâu. Lúc còn bà ngoại, bà hay kể chuyện cổ tích cho Bé Xíu nghe, trong đó có chuyện chú Cuội, chị Hằng, cây đa, thỏ ngọc… Bà ngoại mất đi, Bé Xíu có được một kho chuyện cổ tích, mai mốt lại kể cho em của mình nghe được rồi. Nhưng khi nghe ba giải thích lại, Bé Xíu hiểu rằng trên cung trăng không có gì ngoài những vùng như núi non và hố trũng. Không có cây xanh, không có biển cả hay sông ngòi. Ôi, một nơi lạnh lẽo và hoang vắng, làm sao có sinh vật? Thế thì chú Cuội cũng không mà chị Hằng cũng mất. Bé Xíu ngơ ngác một chút. Và khi chương trình truyền hình chấm dứt, Bé Xíu thơ thẩn ra ngoài sân, ngồi buồn một mình.

Văng vẳng có tiếng hát bên nhà hàng xóm:
- “Bầy trẻ thăm hỏi cung trăng, chú Cuội đâu vắng cô Hằng đâu xa, ố tang tình tang, ố tang tình tình… Động lòng thương trẻ bơ vơ, đàn chim nhỏ bé bay vô trả lời, ố tang tình tang, ố tang tình tình…… Từ ngày có vệ tinh bay, bay có ba ngày lên tới mặt trăng, ố tang tình tang, ố tang tình tình… Cuội đành đem chị Hằng Nga tìm xứ xây nhà không biết ở đâu…” (*)
Bé Xíu nhìn lên trời. Đêm nay mới mồng bảy tháng sáu âm lịch, chưa thấy trăng tròn. Nhưng bầu trời bao la khiến Bé Xíu có một chút bâng khuâng. Cô bé nghĩ đến chững câu chuyện cổ tích bà ngoại kể, chợt bật cười khi tưởng tượng bà ngoại sẽ “bí” khi Bé Xíu hỏi bà về nơi ở của chị Hằng và chú Cuội. Ồ! Nhưng dù sao bà ngoại hay má cũng đã chưa từng bị ngỡ ngàng như Bé Xíu bây giờ.

Ba đứng sau lưng Bé Xíu tự lúc nào. Bé Xíu hơi giật mình khi nghe giọng của ba cất lên:
- Bé Xíu làm gì đó? Sao con không vào học bài?
Bé Xíu quay lại, lắc đầu:
- Không ba ơi! Tối nay con phải làm xong cái lồng đèn.
- Để ba giúp con.
- Thật hả ba?
- Thật chứ, ai nỡ để con gái cưng của ba loay hoay một mình. Con muốn làm lồng đèn hình gì nào?
- Con muốn làm hình quả trám.
- Dễ thôi, cha con mình cùng làm nhé! Trước tiên, con hãy xếp tờ giấy làm đôi theo chiều dài, rồi xếp như xếp quạt vậy, xong rồi banh ra từ từ, tạo thành góc nhọn thế này.
Bé Xíu vừa làm theo lời ba chỉ dẫn, vừa tỏ ý khâm phục:
- Hay quá! Con làm được dễ dàng.
- Ấy, banh nhè nhẹ kẻo nó toác ra. Như vậy được rồi! Để ba chỉ con cách cắt giấy bìa dán hai mặt nhé! Đưa kim chỉ đây, ba chỉ cho con may hai đầu lại, nhưng đừng may chặt quá, mở ra sẽ cong queo…
Bé Xíu ngắt lời ba:
- Ủa, mà sao ba giỏi vậy hở ba?
Ba cười:
- Giỏi gì đâu? Ba sinh ra là con nhà nghèo, đâu có đủ tiền mua đồ chơi. Cái gì ba cũng học cách để tự làm lấy.
- Con cũng thích tự làm lấy.
- Không tự làm lấy cũng không được, làm sao mà dự thi? Chẳng lẽ đi mua ở tiệm rồi mang dự thi sao cô nương?
Bé Xíu cười bẽn lẽn:
- Đúng rồi ba! Cô giáo bảo phải có sự sáng tạo mới được dự thi.
- Ừ. Nè tiếp tục đi con! Tới phần đính hai cái quai bằng dây kẽm vào, phải khéo tay một chút không thôi rách. Cuối cùng là xoắn đoạn dây kẽm này lại như hình lò xo để gắn đèn cầy… Rồi, xong!
Ba như không nhớ gì đến đoạn phim thời sự vừa qua. Bé Xíu cũng lăng xăng chìm vào công việc…

***

Ngôi trường tiểu học mấy hôm nay vui như Tết. Cuộc thi làm lồng đèn đã kết thúc. Vui nhất là những ngày các học sinh đem lồng đèn vào lớp, khoe nhau, tranh cãi, phê bình, và… giận nhau nữa. Bạn nào cũng muốn đèn của mình là chiếc đẹp nhất. Cô giáo phải giảng hòa rồi sau đó nộp đèn lên cho nhà trường.

Một tuần trôi qua, đã đến ngày có kết quả. Và, Bé Xíu không thể ngờ, chiếc lồng đèn của cô bé chiếm hạng nhì, sau chiếc đèn hình máy bay của một bạn trai “đàn anh” học lớp Nhất (**). Vài bạn khác lãnh giải ba và đồng hạng giải tư. Dĩ nhiên bên cạnh hình dáng đẹp, cắt dán khéo, lại còn phải nói lên ý nghĩa nào đó nữa. Cuộc thi có một phần lấy từ sáng kiến của thầy dạy lớp Nhất, đó là mỗi học trò dự thi phải nộp một đoạn ngắn gồm vài câu giải thích về chiếc đèn do mình làm ra. Và bài của Bé Xíu là như sau:
- “Kính thưa Ban Tổ Chức cuộc thi làm lồng đèn Trung Thu! Em thích làm một chiếc lồng đèn hình quả trám vì nó nói lên hình ảnh của mặt trăng, và mặt trăng này luôn luôn dễ thương trong lòng của em. Em cũng muốn chiếc đèn này nói lên tình thương của em dành cho ba má em, cho em của em, cho cô giáo em và cho nhà trường, cùng các bạn của em”.
Và bởi vì còn có một câu hỏi mà người dự thi phải trả lời: “Em muốn tặng chiếc lồng đèn của em cho ai?” nên Bé Xíu cũng viết câu sau đây:
- “Nếu có thể được, em xin quý thầy cô gửi tặng dùm chiếc lồng đèn này cho các phi hành gia đã đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng vào ngày hai mươi tháng bảy năm nay”.
Khi thầy hiệu trưởng đọc bài viết ngắn của Bé Xíu đến câu cuối, mọi người đều “ồ” lên và xôn xao bàn tán. Nhưng thầy hiệu trưởng ôn tồn nói:
- Đây là một điều ước muốn rất chân thành. Thầy hứa sẽ giúp em.
Khi Bé Xíu trở về lớp, nghe các bạn xì xầm về mình rất nhiều. Nhưng Bé Xíu thấy trong lòng vui lắm. Bé Xíu sẽ khoe ba má ngay khi về đến nhà.

***

Ngày tháng dần qua, nhưng Bé Xíu cũng không quên điều ước muốn của mình. Sau cuộc thi, đôi lần Bé Xíu gặp thầy hiệu trưởng trước văn phòng, thầy có nhắc lại và bảo rằng đã chuyển chiếc lồng đèn của cô bé đến một hội “có liên lạc được với các phi hành gia”. Sau đó không bao giờ thầy nhắc đến nữa. Bé Xíu cũng đâu có nhiều dịp để gặp thầy hiệu trưởng. Còn cô giáo lớp Ba của Bé Xíu thì không nhắc đến, có lẽ cô không muốn Bé Xíu thất vọng. Các bạn trong lớp – và cả các bạn khác lớp cũng hay xì xầm – nhưng ít thôi - mỗi khi gặp Bé Xíu. Chẳng biết họ xì xầm cái gì. Bé Xíu không thắc mắc lắm đâu! Cô bé chăm học, chăm làm, nhiều việc khác còn thú vị hơn.

Chuyện “liên lạc với các phi hành gia” chắc còn khó hơn nói chuyện với chú Cuội chị Hằng. Mỗi lần trăng tròn, Bé Xíu lại nhớ đến chiếc lồng đèn đó một chút, rồi mau chóng cất vào trong ký ức.

 

2

 

Ngày 20 tháng 7 năm 2009

Ông A. (xin lỗi quý độc giả, chúng ta hãy tạm gọi ông là ông A. nhé!) đã trình bày xong bài nói chuyện trước các hệ thống truyền thông. Ông cũng đã trả lời xong câu hỏi của các phóng viên. Nét mặt của ông thật thoải mái, mặc dù năm nay ông đã gần tám mươi tuổi rồi. Nhưng mọi người đều tìm thấy những dấu vết của quãng đời khi ông còn là một thanh niên đầy nhiệt huyết, một phi hành gia, một trong ba người đã đi trên chiếc phi thuyền đến thám hiểm cung trăng lần đầu tiên – những con người đầu tiên từ mặt đất, đi đến thăm quê hương của chị Hằng. Một bước chân thật ngắn của họ là một bước tiến lớn của nhân loại. Mỗi năm đến ngày kỷ niệm chuyến đi lịch sử ấy, câu nói này lại được mọi người nhắc đến.

Cuối buổi họp, ông A. bỗng đứng lại trước máy vi âm, và cất tiếng:
- Xin phép quý vị cho tôi có thêm vài lời. Hôm nay, sau bốn mươi năm, tôi muốn được, qua phương tiện truyền thông, nhắn lời cám ơn một em bé gái. Vâng, một em bé gái người Việt Nam, bốn mươi năm trước em đã gửi tặng chúng tôi một chiếc lồng đèn bằng giấy do tự tay em làm. Tôi chỉ biết được như thế thôi, ngoài ra tôi không có cách nào để liên lạc với em cả, bởi chiếc lồng đèn này đến tay chúng tôi lẫn trong một núi quà và thiệp chúc mừng. Tôi chỉ biết em là một học sinh nhỏ tuổi Việt Nam, và là một bé gái, qua dòng chữ em ghi tên trên chiếc đèn. Tôi mong rằng, ngày hôm nay, em vẫn còn hiện diện trên trái đất này, và có thể nghe được lời cám ơn của tôi, thay mặt cho các bạn đồng hành của tôi trên chuyến bay đó.
Cử tọa bỗng như lặng đi một lát. Giọng nói của ông A. nghe như một cung đàn chùng.

Buổi họp tàn. Ông A. chuẩn bị ra về. Nhưng chợt xuất hiện trước mắt ông, một người phụ nữ. Người ấy mang dáng dấp của một cô bé dịu dàng pha một chút tinh nghịch, đang mở to đôi mắt đen như hạt dẻ và cất lời:
- Thưa ông A., cháu rất vui được gặp ông ạ!
- Cô là…?
- Thưa ông, cháu là cô học trò nhỏ đã gửi tặng ông chiếc lồng đèn bốn mươi năm trước đấy ạ!
- Chúa ơi! Là cô đấy sao? Tôi thật không tin là …
- Cháu cũng không tin, thưa ông! Bốn mươi năm qua cháu luôn tự nói vui với chính mình rằng gặp được phi hành gia còn khó hơn nói chuyện với chú Cuội và chị Hằng. Ồ, mà ông có biết chú Cuội, chị Hằng là ai không?
Ông A. lộ vẻ cảm động lắm. Ông gật đầu lia lịa, nói:
- Có, tôi có biết chứ! Tôi đọc và tìm hiểu những truyền thuyết về mặt trăng ở khắp nơi. Tôi biết trẻ em Việt Nam rất yêu mến cung trăng, xem đó như nơi trú ngụ của một nàng tiên rất đẹp và một anh chàng hay nói dối nhưng cũng rất giàu lòng nhân ái. Người Việt Nam giàu tưởng tượng quá, và rất mơ mộng. Tôi có lần đã nhìn lên mặt trăng và thấy như có hình bóng của một cây đa to ở trên ấy. Dĩ nhiên là tôi đứng từ trái đất như lúc này đây.
- Ô! Ông hay quá! Đúng đấy ông ạ.
Ông A. băn khoăn:
- Nhiều lúc tôi tự hỏi: không hiểu những hình ảnh gửi về trái đất cho mọi người thấy sự thật về mặt trăng có làm cho các trẻ em buồn vì không còn tin được vào những chuyện thần thoại hay không.
Bé Xíu – vâng, chính là Bé Xíu – nói ngay:
- Thưa ông, cháu có thể trả lời ông ngay, hy vọng điều cháu nghĩ là đúng. Sau bốn mươi năm, cháu có thể nói rằng, cho dù trẻ em không tin tuyệt đối vào những câu chuyện thần thoại, nhưng qua nhiều năm tháng, những mẩu chuyện đó vẫn được lưu truyền, và vẫn được nhắc đến hằng năm. Trẻ con Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới vẫn chơi lồng đèn, vẫn ăn bánh trung thu; và người lớn vẫn thích kể cho con em mình nghe chuyện chú Cuội chị Hằng.
- Ô! Thế sao?
- Vâng, và một hôm cháu nói chuyện với một em bé mười tuổi, người bản xứ tại đây, em cũng kể được chuyện sự tích trăng tròn trăng khuyết theo truyền thuyết của thổ dân ở Hoa Kỳ. Em bảo mẹ của em kể cho em nghe, và em rất thích câu chuyện ấy…
- Câu chuyện bà lão ngồi trên cung trăng đan chiếc rổ ư?
- Dạ vâng. Mỗi khi bà lão đan xong chiếc rổ thì đó là lúc trăng tròn, nhưng con mèo của bà nhân lúc bà bận khuấy nồi bắp hầm thì nó lại tháo cái rổ của bà ra, nên chúng ta có những đêm trăng khuyết. Nó tháo mãi cho đến khi cái rổ mất đi, và chúng ta có đêm không trăng. Và bà lão lại bắt đầu đan một cái rổ mới…
Ông A. nói to:
- Ôi! Thật là thú vị! Trẻ em vẫn còn thích nghe những chuyện đó ư? Sao… cô biết?
- Dạ, ông ơi, cháu đang đi dạy học các lớp tiểu học, và… và cháu phụ trách một chương trình nói chuyện với các bé thiếu nhi trên radio. Các em vẫn thích nghe kể chuyện thưa ông, mặc dù các em dư biết đó là những chuyện tưởng tượng.
- Tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi!
Bé Xíu hân hoan:
- Và những chương trình giải trí dành cho trẻ em vẫn không mất đi tính thơ mộng. Người ta sẵn lòng nghe câu mở đầu rất dễ thương: “Ngày xửa ngày xưa….”, cũng như câu mở đầu quen thuộc “Once upon a time…” vậy, thưa ông.
Đôi mắt của ông A. long lanh như có ngấn lệ. Ông nắm chặt bàn tay của người phụ nữ mà ông nghĩ qua nhiều năm tháng vẫn dễ thương như một bé gái tám tuổi. Ông nói:
- Cuộc gặp gỡ với cô ngày hôm nay thật tuyệt. Bốn mươi năm qua, tôi thỉnh thoảng đem chiếc lồng đèn cô tặng ra ngắm nhìn và suy nghĩ nhiều. Tôi nghĩ trên trái đất của chúng ta thật vẫn còn nhiều điều chưa được khám phá, nói chi là khám phá mặt trăng. Cô biết không, có lúc tôi đã rơi vào sự trầm cảm, vì tôi nhận ra phần khó khăn nhất của sứ mạng mà mình phải thực hiện không phải là những gì xảy ra trên các chuyến bay đi vào vũ trụ, mà là những điều xảy ra khi chúng tôi trở về nhà. Cũng may, nhờ có những người thân, chúng ta sẽ thoát ra khỏi tâm trạng ấy và tìm thấy chỗ đứng của mình trong cuộc đời này, trên mặt đất này.
Bé Xíu rưng rưng cảm động:
- Ông … như là một văn sĩ…
Ông A. cười khoan khoái:
- Phải, văn sĩ từ cung trăng. Cám ơn cô bé, cám ơn chiếc lồng đèn bốn mươi năm.
- Cháu cám ơn ông, ông phi hành gia!

Trung Thu 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

tuoihoa.hatnang.com

 


Chú thích của tác giả:

(*): Trích bài hát “Một đàn chim nhỏ” – Phạm Duy
(**): lớp Năm

 

 

 

 

alt

Mảnh giấy nhỏ đã đầy đặc những hình vẽ. Tiến bỏ cây viết xuống bàn, ngắm nghía. Tôi cũng ngừng tay viết, hỏi:
- Vẽ cái gì đó Tiến?
Hình như thằng bé không nghe gì. Tôi nhìn vào mảnh giấy: chỉ toàn là đồi núi lồi lõm và chính giữa là một chiếc phi thuyền. Cả một khung cảnh thật khích động. Tôi nao nao nhớ đến cách nay năm năm, những bước chân đầu tiên của con người đã đặt lên nguyệt cầu. Thật thần tiên và cũng thật tàn nhẫn. Thần tiên vì đó là sự thực hiện giấc mơ của người địa cầu: thăm quê hương của chị Hằng. Nhưng cũng thật tàn nhẫn vì từ đó bao nhiêu huyền thoại đã sụp đổ. Trẻ con từ đó không còn tin chuyện cây đa, chú Cuội, chị Hằng, thỏ ngọc trên cung trăng. Mảnh trăng vàng không còn là một cái gì thơ mộng, bí ẩn nữa.

Tiến quay lại, khoe:
- Đẹp không chị?
- Đẹp.
Tiến hớn hở nói:
- Đây là chiếc nguyệt xa do em sáng chế.
Tôi giật mình, rồi cười xòa:
- Kiểu năm nào đây?
- Năm 1984.
Tôi bắt đầu tham dự vào trò chơi của Tiến:
- Tại sao không phải là năm nay?
- Năm nay em mới có mười tuổi, chưa làm phi hành gia được.
- Ghê dữ vậy? Đợi tới hai mươi tuổi làm phi hành gia trẻ nhất thế giới à?
Tiến cười thích thú, và cúi xuống vẽ thêm cái bóng của chiếc nguyệt xa in trên mặt đất lởm chởm.

Tôi không còn hứng để viết nữa, lặng yên ngắm bức họa của Tiến, chợt nghe một nỗi gì, như là tiếc, hay thương, hay bâng khuâng… làm lòng mình chùng xuống. Mùa thu! Ừ, mùa thu đã đến từ lâu rồi. Giản dị và gọn gàng biết bao! Mùa thu ở Sài Gòn không có gió heo may mà chỉ có nắng gắt làm toát mồ hôi. Không có lá thu rụng mà chỉ có những đốm hoa phượng tả tơi còn sót lại trên cành cây xanh lá. Ôi mùa thu! Vô vị và lặng lẽ thế nào! Bao nhiêu lần Trung thu đã đến và các em tôi lớn dần. Mỗi lần phố xá có một tí màu sặc sỡ vì những chiếc lồng đèn và xóm nhỏ có một tí lửa đèn cầy bé nhỏ lung linh về đêm, là tôi nhớ đến ngày hai con người đầu tiên bước chân lên mặt trăng (*). Rồi thôi, tôi lại quên ngay sau đó. Nhưng hiện giờ, Tiến đang gợi lại. Tôi biết trong cái khô gọn của đời sống, bao nhiêu ước mơ đã tự nó ươm mầm. Trong cái lặng lẽ của ngày tháng, một chút gì rực rỡ vẫn tiềm tàng. Nhìn Tiến vẽ mơ ước của mình ra trang giấy, tôi nghĩ đến đường biểu diễn mơ ước của con người theo thời gian. Ai lại chẳng thế, phải không? Thuở lên năm có những ý nghĩ vĩ đại, khi lớn dần thì ước mơ lại nhỏ dần. Một sự biến thiên nghịch chiều? Tôi cũng vậy, nhưng hy vọng có nhiều cái ngoại lệ. Ồ, nghĩ vẩn vơ quá đi! Hãy nhìn kìa, cái lá cờ Việt Nam đã bay phất phới một cách rất nặng nề bên cạnh chiếc nguyệt xa.

***

- E… í… e… í… ò! Dang ra! Xê ra!
Ai cũng giật mình. Nhưng Má đã hiểu ra trước. Má cười:
- Rồi! Lại choàng khăn, lại trùm mền nữa rồi!
Quả thật không sai. Thạnh xuất hiện ở cửa phòng, làm ai cũng bật cười. Trên đầu quấn một tấm vải hoa, giắt một cây trâm vàng, người choàng một tấm mền nhỏ. Thạnh để ngón tay trỏ lên má, chạy một vòng biểu diễn. Tôi kêu lên:
- Thạnh, sao cứ giả gái hoài vậy?
- Em đóng “Hồ Quảng” mà!
- Trời!
Tôi không thể nào nhịn cười được. Tiến thì bực mình gắt gỏng:
- Nè, sắp nhập học rồi, sao không chịu ôn bài? Mi mà học dở quá cô đuổi ra, cho đi học trường tư ráng chịu.
- Không sợ! Học trường tư cũng được. Thạnh tha hồ mặc áo đẹp. Có anh Tiến mới sợ, nghe má dọa hễ thi rớt thì bắt đi học trường tư phải mặc áo chim cò…
- Rồi sao?
- Rồi… rồi hoảng hồn phải thi đậu vào lớp đệ thất (**), ha ha….
- Trời ơi! Nói vậy mà cũng nói. Người ta đậu là vì người ta học giỏi.
- Kệ anh Tiến. Thạnh cũng học giỏi vậy. Nhưng Thạnh cũng thích hát Hồ Quảng nữa. Nè, nghe đây… dang ra… xê ra! E í e í… ò… Như ta đây là….
Tiến vùng vằng tức tối cầm sách vở chạy đi. Còn lại cu Thạnh lúc này đã leo lên giường, một mình thủ nhiều vai. Giọng của Thạnh trong trẻo và gương mặt mũm mĩm trắng hồng khiến không ai có thể giận Thạnh được.
- Bây giờ em đóng vai Na Tra nghen! Lúc này Na Tra đang hiện hồn về nghen! Bớ mẹ… con đã về đây… bớ… mẹ!....

***

alt

Tiến và Thạnh khác nhau một trời một vực. Tiến ít nói, Thạnh líu lo như chim. Tiến thích ngồi một mình xem sách hoặc vẽ, Thạnh ưa có đông người để cho cu cậu góp chuyện. Tiến mê Sử ký, Địa lý, Toán và … Thiên văn, Thạnh khoái xem kịch và… cải lương Hồ Quảng. Tiến thích mặc áo trắng quần xanh để đi học trường công, Thạnh khoái có khăn áo rườm rà để… đóng tuồng.

Tôi gọi Thạnh:
- Thạnh nè! Mình là con trai, đi học trường con trai, mà cứ yểu điệu như vậy người ta đuổi qua trường con gái đấy!
Thạnh tháo chiếc khăn xuống, nhoẻn miệng cười:
- Em chơi một tí thôi. Bữa nào đi học, em lại học đàng hoàng.
- Giỏi lắm! Học rồi lớn lên Thạnh sẽ làm gì nào?
- Làm nghề gì hở chị?
- Ừ. Chẳng hạn như anh Tiến đó, anh ấy mơ làm phi hành gia để lên mặt trăng. Còn Thạnh?
- Em cũng mơ lên mặt trăng.
- Thật không?
- Thật chứ! Em sẽ đi đua cùng với anh Tiến.

***

Thạnh đã lên mặt trăng trước Tiến. Một cuộc so tài thầm lặng! Tiến còn chờ ngày hai mươi tuổi. Nhưng cu Thạnh thì chỉ cần đội lên đầu một cái vương miện bằng giấy, khoác một tấm chăn, và nhún chân một cái… Xoèng! Tiếng chiêng trống giả bằng miệng đã nổi lên. Và… “Đường Minh Hoàng tí hon” đang đứng trên… cung Quảng. Thật là huyền diệu! Thật là thơ mộng! Trung Thu chưa đến, nhưng tôi nghe xung quanh mình nhiều tiếng trống múa lân như đã vang dội. A! Ít ra trong cái khô gọn của đời sống, của thời đại nguyên tử, vẫn còn có những phút giây hay hay như thế. Tôi vỗ tay khen ngợi Thạnh. Thạnh đang bước trên mặt đất quê hương chị Hằng – làm bằng mền và gối. Thật êm ái, không âm u lạnh lẽo như mặt đất cung trăng mà Tiến đã vẽ, như những phi hành gia đã thấy.

Tiến tức lắm. Dù không ghét những trò chơi của Thạnh, nhưng để tỏ ra “ta là người lớn”, Tiến bỏ đi ra sân nhà.

***

Đêm đã xuống thật bình yên. Ở đây mùa thu không vui, không thơ mộng, nhưng Tiến không phải nghe súng bắn hay bom nổ như ở nhiều nơi mà Tiến biết qua sách Địa dư, qua tin thời sự. Tiến dõi mắt nhìn lên trời. Tiến đã thấy trăng ở sau mây. Khích động quá, cái mảnh tròn và sáng rực đó. Từ lúc năm tuổi đến nay Tiến đã vẽ biết bao nhiêu chiếc phi thuyền. Trái mơ chưa chín. Nhưng Tiến sẽ lên đó, cắm một ngọn cờ, nhặt vài mẩu đá, và… và làm gì nữa nhỉ?

- Cho Tiến này!
Tiến ngạc nhiên, rồi sáng đôi mắt lên. Một mẩu đá trong tay chị. Tiến nắm lấy, thắc mắc:
- Đá gì đây, chị?
- Đố Tiến biết.
- Đá mặt trăng, phải không?
- Sai rồi! Đá ở núi Châu Thới, chị nhặt và giữ mấy năm nay. Cho Tiến đó!
Tiến băn khoăn chưa hiểu. Tôi xoa đầu em, nói:
- Tiến biết không, đá này hay hơn đá mặt trăng nhiều. Vì đá mặt trăng được mang về nghiên cứu, nếu có những gì quý giá thì con người cũng khó lòng mà đạt được, vì nó xa xôi quá. Còn đất đá lấy từ nước non mình, đáng được nghiên cứu hơn hết, vì…
Tôi không biết nói sao cho đủ ý. Tiến mới có mười tuổi. Hãy để cho em nuôi trái mơ. Tôi thật bậy khi phá quấy những ý tưởng của em. Nhưng Tiến đã cười, và em tiếp lời tôi:
- Em hiểu rồi! Vì trong đất đá có những giọt dầu hỏa. Em nghe người ta nói vậy, đúng không chị? Nếu biết trong đất đá nước mình có những giọt dầu hỏa, mình sẽ dễ tìm kiếm hơn là tìm kiếm một thứ gì trên mặt trăng, phải không chị?
- Ừ!
Tôi lặng im, và nghe gió thu mát rượi cả lòng. Tiến không còn nhìn mặt trăng nữa, mà say sưa ngắm mẩu đá. Em ơi! Quê hương ta chưa cần có một chiếc phi thuyền, nhưng đang cần rất nhiều dụng cụ, nhiều nhân lực để tìm dầu hỏa. Rồi em sẽ lớn. Rồi các em sẽ lớn nhé! Những ước mơ của chúng ta chắc chắn sẽ nhỏ dần theo ngày tháng – nhưng đến một điểm nào thôi, rồi sẽ ngừng lại, và tiếp tục. Ở đó, giấc mơ thành sự thật. Tiến hiểu gì không?

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 227, số Trung Thu, ngày 1-10-1974

tuoihoa.hatnang.com

----------------------------------------------------------------------------------
(*) Ngày 20 tháng 7 năm 1969, phi thuyền Apollo 11 mang những con người đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng.

(**) Hệ thống trung học trước năm 1970: Lớp Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ, Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất: tương đương với lớp Sáu, Bảy, Tám, Chín, Mười, Mười Một, Mười Hai.

 

 

alt

“Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ là ôm một mối mơ…”

Các em còn ráng kéo dài chữ “mơ” cuối cùng ra. Âm thanh ngây thơ như muốn vướng vít đâu đó chưa tan. Chị cũng lướt dài nốt nhạc, tiếng đàn ngân theo tiếng hát của các em, rồi im tự lúc nào. Các em lại rộn lên cười cười nói nói, cơ hồ không cười, không nói một phút là không chịu được. Nhưng chị còn ngồi im. Chị còn muốn níu kéo chút âm vang còn lưu lại. Các em hát hay quá! Giọng hát trẻ thơ thật hồn nhiên khiến chị muốn xa rời số tuổi hiện tại, để nhỏ lại bằng các em thôi, bằng Ti, Bé, Tiến, Thạnh…

Cu Thạnh nhảy lòng vòng vướng vào cây đàn trên tay chị. Sáu dây đàn cùng kêu lên một tiếng “xoèng” khô khan. Chị vội vã dựng cây đàn vào một góc. Các em ý chừng không đứa nào muốn hát nữa, cùng chụm đầu lại bàn tán. Chị nghe thật rõ giọng thằng Ti:
- Các em muốn nghe kể chuyện không? Nói chị Thanh kể chuyện cho nghe.
Mấy cái miệng nho nhỏ cùng nói một lượt:
- Thích.
Rồi, như cái máy, các em quay lại nhìn chị. Và chị chìu lòng các em. Chả là đêm nay là đêm đặc biệt mà! Đêm Trung Thu, đêm của các em, của tuổi thơ đó! Chị dành hết thì giờ của chị cho các em. Trước đây một tuần, chị đã soạn những tờ giấy hoa màu mè thật đẹp để xếp đèn cho các em. Đèn quả trám, đèn cái trống, đèn xếp… do tay chị làm lấy, đêm nay đã được treo đầy trước cửa, nến thắp sáng trưng. Và tiếng hát của các em cũng ngọt ngào như bánh kẹo, êm như gió và trong sáng như trăng.

Chuyện chú Cuội ngồi gốc cây đa chị kể biết bao lần rồi, nhưng các em vẫn đòi nghe. Những chữ, những lời đã quá quen thuộc với chị.
- Ngày xưa có một chú nhỏ tên là Cuội, nghèo thật là nghèo và hay nói dối… - Chị miên man kể trong khi các em say sưa nghe. Và câu chuyện gần chấm dứt - Chú Cuội bám rễ cây đa bay theo lên cung trăng. Trên đó, có một nàng tiên tên là Hằng Nga, đẹp như…
- Không, chị Hằng mặt lỗ chỗ, xấu lắm cơ!
- Chị Hằng đâu có đẹp!
- Trên đó lạnh lắm, chị Hằng làm sao mà sống?
Hình như nét mặt của chị lúc này chưng hửng trông kỳ lắm các em nhỉ! Ừ, chị đã dối các em. Chị đã mải mê nói dối các em từ đầu câu chuyện. Ngày xưa, năm kia, năm ngoái, các em còn tin chuyện trên cung trăng có chị Hằng chú Cuội, chứ bây giờ, ai nói cho các em tin được? Câu chuyện thần tiên đó chỉ tô vẽ cho tuổi thơ thêm mơ mộng thôi, nhưng khi các em đã biết được những câu chuyện thật trước mắt, thì câu chuyện đã hết nét mộng mơ, mà chị kể lại cho các em nghe chẳng khác nào chị đang nói dối. Thằng Ti nhận ra chị “cụt hứng” nên quay lại rầy lũ nhỏ:
- Các em đừng bàn tán nữa. Có để yên cho chị kể tiếp không?
Có lẽ các em thấy “tội nghiệp” chị nên lặng im. Nhưng chị không nói tiếp được. Nói là “chị Hằng” đẹp như cái gì bây giờ? Chị không muốn dối các em thêm nữa. Những buổi theo dõi trên máy truyền hình, những phút chờ đợi, những lời bàn tán, chưa đủ làm các em biết sự thật hay sao? Mặt trăng chỉ là một hành tinh xa lạ, khác hẳn địa cầu. Con người bây giờ mới đặt chân lên đó với bao khó khăn và tốn kém. Thì thử hỏi, chị Hằng và chú Cuội làm sao có mặt ở đấy hàng ngàn năm trước? Chị nuốt nước bọt nhìn các em, gượng cười.

Cu Tiến, đứa nhiều thắc mắc nhất nhà, hỏi:
- Chị, trên mặt trăng… ghê như vậy đó, có chị Hằng với chú Cuội thật không?
- …Không có ai cả, em ạ! Chuyện chị Hằng chú Cuội là bịa đấy! Mà thôi, chị em mình hãy nói chuyện khác.
Chị thoát khỏi ngõ bí rồi. Chị và các em quay sang bàn tán về phi thuyền Apollo 11, chiếc phi thuyền đưa con người đổ bộ lên mặt trăng (*). Hình như câu chuyện bây giờ sôi nổi hơn, hào hứng hơn và… thật hơn. Các em nói như chim, cãi nhau ríu rít và lại còn… đặt “giả thuyết” nữa. Ti nói thế nào trên đó cũng có “người” ở, Bé thì đoán “người mặt trăng” sẽ giống như các quái vật trong phim “ông tai lừa”. Cu Tiến bảo “người mặt trăng’ sẽ giống như người máy rô-bô… Mỗi em một ý. Các em chắp nối những sự việc trông thấy trước mắt hàng ngày để tưởng tượng thành cái thế giới của các em, thế giới mà ngày xưa người ta đã thêu dệt rất nhiều nét thần tiên mơ mộng.

Câu chuyện tốn rất nhiều nước bọt rồi chẳng đi đến đâu. Sau đó, các em lại ngồi yên nhìn lên trời. Mặt trăng đêm nay tròn hơn bao giờ hết, sáng hơn các lồng đèn của chị em mình. Màu vàng thật ngọt của ánh trăng làm chị thấy êm đềm trở lại. Chị lại liên tưởng đến những chuyện thần tiên. Ngày trước, chị đã từng nắm tay chị Thúy chạy đi trốn ông trăng; đêm đêm chị đã nằm mơ thấy chú Cuội hiện đến khuyên trẻ thơ đừng nói dối, đừng dại dột như chú. Thuở ấy ngọt ngào làm sao! Giá bây giờ các em của chị vẫn hoàn toàn tin những chuyện thần tiên ấy nhỉ! Tuổi thơ của các em sẽ vẫn tươi mát đến thế nào! Nhưng sự tiến bộ của nhân loại đã dắt các em đi xa quá! Các em đi xa khỏi những huyền thoại của tuổi thơ… mà vẫn chưa đến gần được sự thật.

Tự nhiên Tiến quay lại nhìn chị:
- Mấy người lên mặt trăng… giỏi ghê chị há!
Chị gật đầu không suy nghĩ. Ti thêm vào:
- Người Mỹ giỏi ghê! Người Nga cũng giỏi nữa!
Chị lại nuốt nước bọt. Tiến chợt hỏi:
- Chị, người Việt… có giỏi không hở chị?
Chị chưa kịp đáp, Bé đã ngắt lời:
- Giỏi… giỏi sao không phóng người lên mặt trăng?
Chị thấy Tiến ngơ ngác. Mà chị cũng ngơ ngác. Ôi các em của chị! Mặc cảm tự ti đã chớm trong lòng các em tự hồi nào? Chị không nỡ trách các em đâu! Chính lòng chị nhiều khi cũng còn mặc cảm như thế nữa thay! Cây bút máy chị xài: của Mỹ; chiếc xe đạp chị đi: của Pháp; chiếc máy truyền hình, chiếc máy thâu thanh của nhà mình: của Nhật; cho đến những dụng cụ học sinh cũng là của Đức, của Mỹ. Người Việt mình có giỏi không? Khoa học nước mình không có một tí ti nào tiến bộ bằng người. Nếu chị bảo “giỏi” thì các em sẽ thấy là chị nói quá, mà bảo “không” thì… đau lòng quá các em ơi!

Đôi mắt cu Tiến nhìn chị như thúc giục. Em của chị thông minh đĩnh ngộ quá! Không, các em không kém cỏi gì hơn trẻ thơ Âu Mỹ cả. Tất cả chúng ta đều là con người. Chị thấy lại niềm tin, chị đã tìm được câu trả lời:
- Các em, người mình bây giờ còn kém, nhưng về sau sẽ giỏi.
- Làm sao giỏi hở chị?
- Thì các em đây này! Các em sẽ học thật giỏi. Chị nữa chứ, chị sẽ học thật giỏi. Mình sẽ tìm tòi, nghiên cứu như người Mỹ, người Nga. Mình sẽ tiến, sẽ tiến như họ vậy.
Chị thấy cu Tiến liếm môi, Ti cau mày và Bé nắm tay lại. Chị muốn dang rộng đôi cánh tay ôm hết các em vào lòng. Chị nói – nói như say:
- Rồi khi nào hết đánh nhau, sẽ có nơi cho mình học hành đầy đủ, sẽ có thầy dạy cho mình những điều đó, sẽ có dụng cụ cho mình nghiên cứu… như những học trò ngoại quốc. Mình sẽ giỏi, sẽ tiến, nghen các em!
Những đôi mắt bé thơ chợt sáng lên như sao. Chị thấy nghẹn ngào. Mấy lời nói của chị khiến các em tin tưởng mạnh mẽ hơn chất thần tiên trong chuyện chú Cuội chị Hằng. Phải gieo mầm hy vọng trong đầu các em ngay bây giờ, để các em lớn lên không tủi hổ, tự ti. Mình sẽ thắng nhé, các em! Chiến tranh rồi sẽ dứt, hận thù rồi sẽ tan. Ngày mai là của các em đó!

Thôi, hãy đi ngủ. Mười giờ đêm rồi! Chị em mình thức hơi khuya đấy! Các em lục tục vào mùng. Chị một mình ra sân tháo gỡ lồng đèn. Trăng còn sáng, còn cười với chị kìa!

2

Em không ngủ được. Anh Ti, chị Bé đã ngủ từ lâu. Mấy chị còn đang giặt rửa nghe ào ào. Ba, má, cu Thạnh, em Thảo chắc đã ngủ say dưới nhà. Trên gác này còn lại chị Phi cũng vừa mới tắt đèn vào ngủ.
Mọi ngày em ngủ trước mọi người. Nhưng sao đêm nay cơ hồ mắt em cứ giương lên trao tráo. Em cố nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra lúc nào không hay. Những lời của chị Thanh nói ban nãy cứ luẩn quẩn trong đầu em… Mình bây giờ còn kém, nhưng về sau sẽ giỏi. Lạ quá! Mình có kém không? Mà về sau mình có giỏi như người ta không? A, em nghĩ ra rồi! Em bây giờ mới năm tuổi, chắc em còn kém, còn dở lắm. Nhưng em sẽ lớn chứ! Em lớn đến hai mươi tuổi, ba mươi tuổi… em sẽ giỏi. Các “nhà bác học” cũng là những người lớn cả - em chẳng hiểu “nhà bác học” phải như thế nào, nhưng em hiểu là họ giỏi lắm. Không biết khi em lớn, em sẽ giỏi đến thế nào, chứ bây giờ, em thấy em cũng đâu có “dở” gì. Này nhé! Em mới năm tuổi, mà chị Thanh cho em làm toán nhân “2 con”, em cũng làm được. Em học thuộc bài “Con ve và con kiến” dài ghê là…. Em viết được chữ “khúc khuỷu”, “khuya khoắt”, “nghiêng ngửa”, ngoằn ngoèo”,… nhiều lắm cơ, mà không sai… Em học được cả tiếng Anh của anh Tâm dạy nữa kia. Mà khi em đi thi vào lớp “bét” trường công họ cũng bảo thiếu tuổi không cho vô mặc dù em học được lớp năm.(**) Ba nói tại em “giỏi” quá nên họ không dám nhận, làm em “mừng mừng”. Vậy là em đâu có dở. Không hiểu sao mỗi khi được khen em lại vui lên, và em lại khoái tìm tòi hơn. Trong nhà ai cũng bảo em là đứa hay thắc mắc, hay suy tư – em cũng chẳng hiểu “suy tư” là cái gì nữa. Em thấy chị Thanh súc chai nước, chị ấy nhúng cái chai vào thau nước làm phát ra những tiếng “sục sục” rồi bọt nổi lên, em cũng hỏi tại sao. Em thấy cái quạt máy quay làm mát mẻ em cũng bắt chị giải thích tại sao. Em thấy những vật xung quanh – tờ giấy, miếng vải, chiếc xe… em cũng muốn biết làm sao tạo ra chúng được. Tại sao em lắm thắc mắc vậy nhỉ? Rồi có hôm em hỏi chị Thúy:
- Chị ơi! Ai sinh ra mình?
- Má sinh chứ ai nữa?
- Không, em hỏi… cái hồi mà chưa có má, chưa có ngoại, chưa có… ai hết, làm sao có “mình”?
Chẳng hiểu sao cả nhà cười vang. Chị Thúy bảo rằng em về sau không là “khoa học gia” thì cũng là “triết gia” thôi. Em lại cũng chẳng hiểu “triết gia” là gì, phải như thế nào, nhưng “khoa học gia” thì em hiểu – vì em khoái “khoa học” lắm. Nhiều chữ ngộ quá đi thôi, bao quanh em. Suốt ngày em cứ thắc mắc mãi, có khi ai kêu, hỏi gì em cũng chẳng nghe. Anh Ti bảo em chưa già đã điếc. Ôi! Đến bao giờ em mới biết hết mọi chuyện như mấy “nhà bác học” nhỉ?

Một hôm chị Thanh đưa em xem một cuốn báo Tuổi Hoa, chỉ cho em hình một người mặc áo trắng, đang làm việc bên những bình, những ống gì ấy. Chị bảo em đọc những dòng chữ bên dưới. Em đọc: “Một nhà nghiên cứu đang thực hiện những thí nghiệm về hóa học trong phòng thí nghiệm. Các em trai Tuổi Hoa có ước mơ trở thành nhà thông thái nầy không?”. Đọc xong em chỉ cười hì hì nhưng em suy nghĩ ghê lắm. Em rất thích chứ! Không những thích như vậy, em còn mơ được làm “người không gian” lên thám hiểm trên mặt trăng như ba cái ông Mỹ hôm trước trên truyền hình nữa cơ. Đến bao giờ em mới được lái phi thuyền lên mặt trăng nhỉ? Ừ, lo gì, em sẽ học nhiều, học giỏi, em sẽ “chế” ra phi thuyền để em lái. Nhưng mà phi thuyền của em sẽ không mang tên Apollo đâu! Nó sẽ có một cái tên Việt Nam, vì em là người Việt Nam mà! Chừng ấy em sẽ đặt tên cho nó sau vậy.

Lạ, sao em cứ nghĩ mãi thế này? Mọi người ngủ cả rồi, trừ chị Thúy và chị Thanh còn trò chuyện ở dưới nhà. Em thấy ánh trăng chiếu qua cửa sổ, in lên trần nhà thành những vệt dài song song. Đẹp quá đi mất! Em len lén ngồi dậy, vén mùng chui ra, đến bên cửa sổ. Mặt trăng bây giờ sáng hơn lúc chúng em ngồi kể chuyện nhiều, lại tròn như cái bánh ngọt em thích nhất. Em nom thật rõ bóng “cây đa”– hồi trước chị Thanh thường bảo vậy - in trên nền vàng của trăng. Không biết thật ra đó là chỗ nào nhỉ? Có phải đó là chỗ hai ông Mỹ đã đáp xuống không? Thật quá sức tưởng tượng của em, em nghĩ không ra.

Em nhón gót cho cao lên một tí. Em hình dung chú Cuội ngồi trong trăng ấy, chú vẫy em, còn cười với em nữa chứ! Không, không đời nào có chú Cuội! Em chỉ mơ làm “người không gian” lái phi thuyền lên mặt trăng thôi!

3

Quả thật chị đã giật mình vì hoảng hồn, nhưng chỉ nửa phút sau là chị lấy lại bình tĩnh. Tiến ngồi kia mà! Nửa khuôn mặt của em sáng lên vì ánh trăng bên ngoài. Em làm gì ở đây mà chưa đi ngủ? Chị hỏi thật khẽ nhưng cũng đủ làm em giật mình. Em nhìn chị, đôi mắt chớp nhanh. Chị nhìn thấy trong đôi mắt đó nét thông minh rực rỡ. Rồi em hỏi:
- Chị!... Chừng nào em lớn, em “chế” chiếc phi thuyền bay lên mặt trăng như mấy ông Mỹ hở chị!
Chị trố mắt nhìn em. Ôi em trai của chị! Chị quả như người từ mặt trăng rơi xuống, dầu niềm mơ ước này chị đã có từ lâu rồi. Phải như thế chứ, em trai của chị! Chị nghẹn ngào lẫn sung sướng, gật đầu. Em lại tiếp tục:
- Rồi em sẽ… cắm lá cờ Việt Nam trên đó há!
- Ừ.
- Rồi em sẽ bay về trái đất há!
- Ừ.
- Rồi em sẽ thấy lại “người địa cầu” há!
- Ừ.
- Rồi… sao nữa hả chị?
- Rồi chị sẽ ra đón Tiến. Mọi người sẽ ra đón Tiến.
- Sao nữa?
- Rồi ai cũng hoan hô Tiến hết. Tiến đã trở thành…
- …thành gì?
- …thành “nhà bác học”.
Nụ cười của em nở trên môi thật hể hả. Em ơi, chị đã ươm mầm mơ ước từ lâu nhưng chưa nói ra. Thì nay trái mơ đã hiện. Một ngày không xa trái mơ sẽ chín. Niềm tin của chị là đây. Chị ngước nhìn trời. Vầng trăng ngọc như cười với chị em mình. Em ơi, cười đi em!!!

alt

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 114, số Trung Thu, ra ngày 15-9-1969

tuoihoa.hatnang.com
-------------------------------------------------------------------------------------
(*) Ngày 20 tháng 7 năm 1969, phi thuyền Apollo 11 mang những con người đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng.

(**) Hệ thống tiểu học trước năm 1970: Lớp Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhất: tương đương với lớp Một, Hai, Ba, Bốn, Năm sau này.

 

 

Tưởng niệm các nạn nhân trong vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ

alt

 

 

(Viết năm 2011)

Phải nói là “Những lời hát xa xưa của tôi” mới đúng. Bởi trong thời niên thiếu, trong những năm tháng tuổi teen của tôi, những lời hát như đã gắn vào trong tâm. Thuở lên trung học, tôi nghe lời anh cả “học Anh văn, tốt nhất là hát nhạc tiếng Anh cho nhiều”. Mà với bất cứ ngôn ngữ nào cũng vậy chăng? Tôi nghĩ thế. Mấy anh em cứ nghe radio và hát theo những bản nhạc mình yêu thích, rồi thì đi mua nhạc về tập, mãi rồi thành một thói quen khó bỏ. Anh em tôi có cả một tủ nhạc thuộc loại “top hits”. Còn chị tôi và tôi, có những đêm thức thật khuya, châu đầu lại bên chiếc radio pin, sợ ba má nghe nên vặn rất nhỏ, có khi còn trùm mền lại đến vã mồ hôi chỉ để nghe cho hết một bản nhạc.

Vậy thì cũng không hẳn là chỉ vì thích học Anh văn. Đúng ra là mấy anh chị em thích nhạc. Thuở ấy... tôi hay ôm cây đàn guitar hát những bản nhạc của The Beatles. Cả nhà ai cũng nói là tôi mê nhạc “yeah yeah”. Mà “dé dé” thiệt! Nghe dễ thương lắm! Đa số các bản nhạc “dé dé” chỉ có vài lời rất đơn giản, nhưng cô đọng, đủ nói lên cái ý của cả bài, cộng thêm nét nhạc vui nhộn làm cho mỗi bản có một nét độc đáo riêng. Mà không chỉ ban nhạc The Beatles, thời đó thịnh hành những ban nhạc bốn hoặc năm người nổi tiếng khắp thế giới, trong đó có ban nhạc The Byrds mà tôi cũng rất thích. Bản “Turn! Turn! Turn!” của ban nhạc này, lời lẽ đơn giản, kết cấu mỗi câu như kiểu văn đối xứng của Việt Nam nên dễ nhớ và dễ thấm. Đây là một trong những bài “nhiều lời” nhất mà đứa bé con như tôi thích và nhớ cho đến bây giờ:

Turn! Turn! Turn! 
(To Everything There Is a Season)

 

To everything - turn, turn, turn

There is a season - turn, turn, turn
And a time to every purpose under heaven

A time to be born, a time to die
A time to plant, a time to reap
A time to kill, a time to heal
A time to laugh, a time to weep



Sao mà đáng yêu thế! Cái ý niệm “xoay” nhiều nghĩa, đen và bóng, khiến tôi thích dịch ra tựa bài hát là “Xoay! Xoay! Xoay!”

Xoay! Xoay! Xoay!

Việc gì cũng có lúc, có thời của nó
Mọi việc dưới trời đều có kỳ định
Xoay! Xoay! Xoay!

Có lúc sinh, có lúc tử
Có lúc gieo, có lúc gặt
Có lúc giết hại, có lúc chữa lành
Có lúc cười, có lúc khóc 

Có lúc dựng xây, có lúc đạp đổ
Có lúc múa ca, có lúc than khóc
Có lúc ném những hòn đá đi
Có lúc gom những hòn đá lại

Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình
Có lúc yêu thương, có lúc thù ghét
Có lúc bạn ôm hôn
Có lúc bạn tránh né 

Có lúc được, có lúc mất
Có lúc xé nát, có lúc vá khâu 
Có lúc yêu, có lúc ghét
Có lúc dành cho hòa bình, tôi thề, không quá trễ đâu!


Một cô nhóc, hát những lời hát này, thấy thấm, nhưng thấy thấm một cách… rất ngây thơ. Tôi biết gì là chiến tranh! Tôi biết gì là hòa bình! Tôi biết gì là cuộc sống! Tôi biết gì là cõi chết! Ấy vậy mà hát say mê. Người ta bảo: “Những bản nhạc trong thời niên thiếu sẽ in rất đậm trong cả cuộc đời của chúng ta”. Không tin, xin bạn cứ thử nhớ lại.

Rồi đến những nhóm nhạc hai người, thuở đó cũng một thời tôi yêu thích. Trong số đó, tôi say mê với những bản nhạc của nhóm “Simon and Garfunkel”, hai người ca nhạc sĩ hát với cây đàn guitar. Không chỉ riêng tôi đâu, mà hầu như ai cũng thích đôi song ca này. Có lẽ vì những “tiếng lặng thầm” của họ nói lên được nỗi niềm khắc khoải của cả một thế hệ đã quá quen với chiến tranh, với những câu hỏi chưa bao giờ được giải đáp. Họ đã tự giải đáp.

The Sound Of Silence

 
Hello darkness, my old friend,
I've come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.



Tiếng lặng thầm

Chào bóng đêm, người bạn cũ 
Tôi lại đến chuyện trò cùng bạn
Bởi một ảo ảnh đang nhẹ len về
để lại hạt mầm trong khi tôi đang ngủ
Và ảo ảnh ươm mầm trong óc tôi, vẫn còn đó
trong tiếng lặng thầm

Trong những đêm thao thức tôi cô đơn bước đi
qua những con đường đá cuội
Dưới vầng sáng của đèn đường
Tôi kéo cổ áo che giá rét và ẩm ướt
Khi đôi mắt tôi bị một tia sáng đèn nê-ông xoáy vào, xé màn đêm
Và chạm đến… tiếng lặng thầm

Và trong ánh sáng trần trụi tôi đã thấy
Mươi ngàn người hoặc hơn
Người ta đang chuyện trò mà không nói ra lời
Người ta nghe mà không cần lắng tai
Người ta viết những bài hát không có tiếng
Và không ai dám khuấy động tiếng lặng thầm

Khờ quá, bạn không biết đâu
Sự yên lặng như ung nhọt nẩy lên
Nghe những lời tôi có thể bảo bạn
Nắm lấy cánh tay tôi sẽ vươn đến bạn
Nhưng những lời của tôi, như những giọt mưa lặng lẽ rơi xuống 
và vang vọng 
trong bể lặng thầm…


Như vậy đó, nhiều rất nhiều, những bản nhạc trong thời tôi còn nhỏ, thấm vào lòng, tự nhiên đến nỗi tôi không còn nhớ nó là tiếng Anh. Khi buồn thì hát, cảm nhận cũng lớn dần theo với tuổi tác của mình. Nhưng nói chung, tất cả đều nguyên vẹn.

***

Trong đời người, có những bài hát đến với chúng ta trong những hoàn cảnh đặc biệt, và chúng ta nhớ nhiều nhất, nhưng có khi không còn nghe lại. Và cũng có những bài hát chúng ta biết trong những hoàn cảnh không có gì đặc biệt, nhưng có một ngày nào nghe lại trong một bối cảnh khác thường, chúng ta sẽ thấy cảm động nhiều.

Tôi không nghĩ rằng mấy mươi năm sau, tôi nghe lại hai bản nhạc trên, trong một dịp rất đặc biệt. Qua màn ảnh ti-vi, tôi nghe lại những lời của “Turn! Turn! Turn!” nhưng không phải với phần trình diễn của The Byrds, mà là qua lời nói của cựu Thị trưởng Thành phố New York Rudy Giuliani… khi ông đọc bài diễn văn, mà thật như một “điếu văn”, vì ông đang tưởng niệm những nạn nhân trong biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001:

“Việc gì cũng có lúc, có thời của nó. Mọi việc dưới trời đều có kỳ định. Có lúc sinh, có lúc tử. Có lúc gieo, có lúc gặt. Có lúc giết hại, có lúc chữa lành. Có lúc cười, có lúc khóc. Có lúc dựng xây, có lúc đạp đổ. Có lúc múa ca, có lúc than khóc. Có lúc ném những hòn đá đi, có lúc gom những hòn đá lại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Có lúc yêu thương, có lúc thù ghét…”

Kẻ ngoại đạo như tôi, nay đã biết đó là những lời từ trong Kinh Thánh.

Mà cũng rất giống với ý niệm trong đạo Phật. Điều gì hiện có, đã có ngày xưa. Điều gì sẽ xảy ra, đã xảy ra tự lâu rồi. Trong vòng xoay của thế giới, có những điều thật khó hiểu nhưng đã hiển nhiên.

alt

Và rồi thật xúc động, tôi thấy lại Paul Simon.

Không có người bạn Garfunkel cùng song ca bên cạnh, Simon ôm cây đàn guitar, đội chiếc mũ lưỡi trai có in số 9/11, giản dị như ông đã từng. Simon 70 tuổi hát “The Sound of Silence”. Không chỉ với những người sống đang hiện diện quanh ông, đang rơi nước mắt nghe ông và hát theo ông, mà hồ như cả ba ngàn người bỏ mình trong cuộc khủng bố cũng về chia sẻ với ông “tiếng lặng thầm”. Tôi thuở là bé con hiểu lời bài hát này theo kiểu bé con. Tôi lớn lên nhìn thế giới với hai bộ mặt của nó: náo nhiệt và sâu lặng. Mỗi người khám phá “tiếng lặng thầm” theo cách của mình. Còn nơi đây, trên khởi điểm của những cái đã từng mất đi, “tiếng lặng thầm” cất lên có một âm vang lạ thường của nó.

Khi con người còn lấy sự đau thương của kẻ khác làm niềm vui sướng cho mình, thì mọi thứ tiếng nói sẽ trở thành vô nghĩa. Chỉ còn lại một thứ. Tiếng lặng thầm. The sound of silence…

 

2011

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

 

Nguồn hình: Cam Li và bạn

 

 

Trong những năm tháng xa xưa, tôi thường cùng với Má đi qua chùa mỗi dịp lễ Vu Lan. Má trung thành với Tịnh xá này. Tịnh xá ở gần nhà, và là nơi Má thân thiết từ nhiều năm. Đó là nơi Má dẫn dắt một “ca đoàn” nho nhỏ (chữ của Má nói vui) mỗi khi tụng niệm. Thuở đó Má còn khỏe, giọng Má vững vàng, vang xa. Hàng tuần Má đều qua tụng kinh bên chùa. Cả nhóm cứ theo Má mà tụng. Hôm nào Má bận việc không đến, mấy cô bác trong nhóm nói là “thiếu người bắt giọng” tụng không hay. Các con ghẹo Má: “Má như là một ca sĩ ấy!”  Má yêu cảnh chùa, yêu chốn tĩnh mịch, nhưng cũng là nơi “có tính xã hội hóa cao”, nói theo cách mới bây giờ. Ở đó, Má thấy vui vì làm được nhiều việc Má thích, như giúp Sư Bà và các sư cô lo việc cúng Phật, gặp gỡ các đạo hữu, chuyện trò an ủi nhau…

Mỗi mùa Vu Lan, chúng tôi được nghe Sư Bà giảng về giai thoại Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ ở chốn địa ngục. Sư Bà giọng ấm, tiếng rõ ràng, diễn giải ý nghĩa của câu chuyện, khuyên mọi người làm lành lánh dữ. Trong mùa Vu Lan, tâm tư chúng ta hướng vọng “cửu huyền thất tổ”. Thành ngữ này đã trở nên rất quen thuộc, giải thích thì hơi phức tạp, nhưng hiểu thì rất nhanh, chính là ông bà cha mẹ của chúng ta từ nhiều kiếp trước.

Tôi đi xa, không còn dịp đi chùa cùng với Má. Má vẫn dẫn dắt “ca đoàn” của Má, không những ở chùa, mà còn đi đến những gia đình cần lời kinh tiếng kệ, hoặc để cầu an cho người đang bệnh, hoặc để cầu siêu cho người đã qua đời.

Sư Bà nay đã viên tịch. Má không còn tỏ mắt như xưa. Má chỉ đi chùa mỗi khi có dịp đặc biệt. Dù ít, nhưng đó vẫn là một sinh hoạt không thể thiếu.

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu! Đến mùa Vu Lan, người ta cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, nếu đã qua đời thì được siêu thoát, nếu còn sống thì được khỏe mạnh an vui. Riêng chữ “hiếu” cũng có nhiều thay đổi. Tôi còn nhớ lúc học ở bậc trung học, học trò ai cũng biết những câu chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Tôi thích nhất bài “Mẫn Tử Khiên”, được ông Lý Văn Phức dịch và viết với thể thơ song thất lục bát rất dễ học, dễ nhớ:

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.
Thờ cha sớm viếng, khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
 
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời áo kép, mền bông,
Chẳng thương chút phận long đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
 
Khi cha dạo, theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
 
Sa nước mắt, chân quỳ, miệng gửi:
Lạy cha, xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống những cơ hàn cả ba.
 
Cha nghe nói cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng rừ, lọ ai?

Tôi thích chuyện thầy Mẫn Tử vì ngoài ca ngợi lòng hiếu thảo, chuyện còn có ý nghĩa về lòng nhân đạo và sự thứ tha. Tôi cũng thích chuyện thầy Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ mà nghệ sĩ Hữu Phước diễn tả qua bài vọng cổ “Đội Gạo Đường Xa” của soạn giả Kiên Giang, sâu sắc, thấm vào lòng người; hay chuyện Lão Lai Tử đã bảy mươi tuổi nhưng vẫn ăn mặc sặc sỡ, múa hát, thậm chí cất tiếng khóc “oa oa” để làm vui cha mẹ.

Nhưng không phải chuyện nào cũng tốt. Sau này tôi vẫn thường chia sẻ với các bạn rằng chúng ta không nên rập khuôn chữ hiếu, nhất là với cái học lấy mẫu mực từ văn hóa Trung Hoa có thể không phù hợp. Điển hình là trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” cóchuyện kể nhà kia rất nghèo, đến mùa đói kém không có thức ăn, trong nhà có bà mẹ già yếu và đứa con nhỏ, hai vợ chồng vì “hiếu với mẹ” nên đem con đi chôn để bớt đi một miệng ăn, cho mẹ có cơ hội được ăn nhiều hơn. Chôn sống đứa con, Trời ạ! Tôi kịch liệt phản đối.

Sống ở hải ngoại, nhất là nước Mỹ, nhiều người nghi ngờ rằng chữ “hiếu” không còn. Tôi thì tin rằng có. Bàng bạc trong mỗi người con đều có chữ hiếu. Chỉ khác là chữ hiếu không trở thành một cái gì bắt buộc do nề nếp gia đình hay truyền thống dân tộc, từ những bài học đã thành khuôn mẫu cho mọi người. Lòng hiếu vẫn có, và có thể hiện, nhưng theo tự nhiên.

Và chắc có lẽ cũng vì xã hội chăm lo cho người già và người bệnh khá chu đáo nên những người con không cảm thấy quá khó khăn khi cha mẹ đã già. Nước Mỹ có chương trình “In Home Supportive Services” , tùy theo mức độ bệnh tật của người già, chính phủ sẽ cung cấp tiền giúp đỡ để con cái có thể thuê người chăm sóc cha mẹ khi mình phải bận bịu đi làm. Còn một chọn lựa khác nữa, đó là nursing home. Có người bảo vào nursing home chán và buồn lắm; có người bảo sẽ tự nguyện vào nursing home khi mình không còn tự phục vụ chính mình nữa, để con cái khỏi bận tâm. Điều quan trọng là về phần con cái, có thường xuyên thăm viếng cha mẹ hay bỏ mặc các cụ trong cảnh cô đơn?

Trong tháng Bảy âm lịch, nhiều nhà ở xóm tôi ngày trước thường nhộn nhịp cúng “cô hồn”. Đây là dịp để trẻ con lối xóm tụ lại trước những ngôi nhà, chờ gia chủ cúng xong là xông vào giành những khúc mía, củ khoai, bánh, kẹo và những đồng bạc cắc. Mấy người lớn gọi bọn trẻ là “cô hồn sống”. Nghe cũng vui vui. Má thì không cho tụi nó chen lấn giành giật. Má bảo:

“Mấy đứa đứng yên, không chen lấn, bác cúng xong sẽ phát đều cho công bằng nghen!”

Thế là bọn trẻ đứng yên. Tụi nó nể Má lắm. Mấy người được gọi là “tụi nó” giờ đây cũng đã thành tài hết cả rồi! Xóm tôi nhà cửa mọc thêm lên, chật chội. Người xóm tôi kẻ mất người còn.

Đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ ở trong nước người ta cúng kiến càng ngày càng nhiều. Tháng Bảy âm lịch, nghề làm vàng mã tha hồ trăm hoa đua nở. Người ta đua nhau sắm nhà, sắm xe và trăm thứ tiện nghi cho người đã khuất, cho rằng họ có thể “xài” những món ấy. Hàng bằng giấy có khi to bằng hàng thật. Nhà càng giàu càng cúng cô hồn rôm rả. Đám đông người lớn con nít chen lấn “giật cô hồn”. Chủ nhà sợ bị cướp giật nên lên lan can lầu rải tiền xuống. Bên dưới, người người chen chúc xô đẩy nhau để hứng tiền. Có người bày ra “sáng kiến” hứng tiền bằng cái lồng gà to tướng có lót vải cho chắc ăn, tiền khỏi rơi ra ngoài. Nhiều em bé đi lượm tiền, bị người lớn đè muốn bẹp dí, mặc kệ, miễn hôm đó kiếm được đủ tiền mua tô phở.

Những người cộng sản vào chiếm miền Nam Việt Nam, đả phá việc tín ngưỡng, cho đó là mê tín dị đoan. Vì thế có một thời người dân không dám bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình. Riêng chuyện “cúng cô hồn” cũng làm rất kín đáo. Bởi người ta không muốn bỏ đi một tập quán lâu đời là cúng trong tháng Bảy để cầu an vui cho gia đình cũng như nơi làm việc. Một số công sở, ban đầu rụt rè, lén lút bày bàn cúng “cô hồn” rồi nhanh tay dẹp, miễn cho “có lệ kẻo ôn mệ la”, không dám để cấp trên biết. Dần dần tục lệ cúng cô hồn phát triển, ngay cả những người gọi là “cán bộ” cũng tin tưởng và cúng tế, phô trương nhiều hơn cả “thường dân”, thật lạ!

Đến nay thì chuyện cúng vàng mã thịnh hành hơn cả trong thời chưa cộng sản. Người đã khuất đi đâu, về đâu? Họ “xài” những món hàng ấy như thế nào? Không ai trả lời được. Chỉ có một điều rất dễ hiểu là càng cổ xúy cho việc mê tín đị đoan, càng có nhiều người được lợi. Và có cái lợi gì cho tâm hồn của con người không? Đó là chưa kể chuyện mua thần bán thánh. Đức Thánh Trần, vị anh hùng của dân tộc, cùng bao nhiêu vị anh hùng khác, đã bị lạm dụng để người ta có chỗ đi mua lộc, mua chữ. Bao giờ dân tôi mới hết cảnh này?

**

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.”

Ai nghe những câu thơ trên, trong tuyệt tác “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn, qua nét bút diễn nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mà không chạnh lòng nghĩ đến các chiến sĩ vô danh đã bỏ mình vì đất nước?

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi ngậm ngùi tưởng nhớ những người bạn của tôi, khoác áo trận, ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người còn về được trong quan tài, nhưng có người ở lại mãi mãi trong rừng núi, thân xác không biết về đâu. Chỉ còn lại trong trí nhớ của người thân và bè bạn tiếng cười, câu nói của họ.

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi cầu nguyện cho linh hồn những người chết trong chiến tranh, những người chết trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do.

Tháng Bảy năm nay, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng di dân, hình ảnh một em bé trai người Syria, ba tuổi, bị sóng cuốn tấp vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ, đã làm cả thế giới rúng động. Aylan Kurdi nằm bình yên, vô tư như còn sống. Hình ảnh của em như một lời cáo buộc rằng ngay trên dương gian này, có những chốn còn đau thương hơn cả địa ngục, xui khiến người ta phải quyết định lìa bỏ mà đi.

**

Mùa Vu Lan. Có lẽ nhiều người còn được niềm vui mang bông hoa màu hồng trên áo, nhưng cũng có nhiều người thổn thức với màu hoa trắng. Tôi hiểu, những người con, cho dù có lớn có già bao nhiêu, ngày mất cha mất mẹ là ngày cả bầu trời sụp đổ. Tôi đã thấy một người, thường ngày rất cứng cỏi, nhưng khi mẹ qua đời, anh đã khóc như một đứa trẻ. Khi tiễn mẹ xuống lòng đất, anh đã nhoài cả nửa người xuống như muốn theo cùng mẹ.

Tôi cũng vậy, khi Ba mất, cả năm trời sau tôi mới nguôi ngoai. Giây phút đưa Ba vào nơi hỏa táng, tôi như đứa bé bị người ta lấy mất đi một cái gì quý báu vô cùng. Ba ơi, từ đó Ba đã biến mất!

Bạn tôi, T.C., mẹ mất sớm. Ai có hiểu trong con người nghiêm nghị thường ngày giảng đạo pháp trước bao nhiêu người, là nỗi thao thức nhớ đến mẹ của mình hằng đêm. Chị viết trong bài “Cổ Tích”:

<<Má tôi mất, tôi không khóc nhưng lòng không sao nguôi ngoai được…

Một khuya, kiểng thức chúng, tự nhiên tôi nghe như tiếng má tôi gọi tôi. Tôi bật dậy, bàng hoàng, chợt nhận ra chuyện cổ tích có thật. Lòng tôi nhẹ bổng, thương nhớ như nguôi ngoai. Má vẫn ở cạnh tôi, chăm chút tôi như bao giờ.

 Tình cờ cũng mùa hạ năm đó, khi tự tứ, trên mỗi phần quà chia chúng, sư Trụ trì tôi gắn cho mỗi người một đóa hồng nhung ĐỎ thắm. Sư bảo:

"Mẹ thì không bao giờ mất."

Tôi vừa gói quà vừa đáp bằng giọng chắc nịch:

" Đúng rồi cô ! Mẹ thì không bao giờ mất. ">>

Lễ Vu Lan và lễ “Xá tội vong nhân” ở cùng trong tháng Bảy âm lịch. Trong mùa lễ này, chúng ta cùng suy niệm những điều giữa sự sống và cái chết. Một bác vừa qua đời, cây hoa wisteria trong vườn nhà bác bỗng dưng tàn héo, đổ gục. Nhưng mấy hôm sau, nhiều loài cây khác lại trỗi dậy và nở hoa. Người thân của bác qua sự mất mát cũng cảm thấy một niềm an ủi. Không có gì là chấm dứt. Tất cả đều sẽ bắt đầu.

Để tạm dứt về những suy niệm tản mạn tháng Bảy, có lẽ thật đầy ý nghĩa khi chúng ta cùng thưởng thức bài thơ “Do Not Stand At My Grave And Weep”của Mary Elizabeth Frye, bà viết để an ủi một người con gái đau buồn vì không được ở bên mẹ trong những giây phút cuối đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.

Nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như đã viết lại bài thơ này thành nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây”. Tôi xin mượn bản nhạc này để khép lại những dòng tản mạn về suy niệm mùa Vu Lan, tháng Bảy.

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
 
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.
 
Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.
 
Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo.
 
Đừng đứng bên mộ tôi trong sầu não
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây
Tôi áng mây bay lãng đãng theo ai
Trong ráng sớm hừng đông ai thức dậy.
 
Đừng đứng bên mộ tôi mắt lệ rớm
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây…

Tháng Bảy âm lịch 2015

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

https://vietbao.com/p231953a242611/suy-niem-mua-vu-lan